16:17 ICT Chủ nhật, 26/03/2017

Trang nhất » Tin Tức » Suy Niệm Lời Chúa

Các bài suy niệm lễ: THÁNH PHAOLÔ TÔNG ĐỒ TRỞ LẠI

Thứ ba - 22/01/2013 17:29
Các bài suy niệm lễ: THÁNH PHAOLÔ TÔNG ĐỒ TRỞ LẠI

Các bài suy niệm lễ: THÁNH PHAOLÔ TÔNG ĐỒ TRỞ LẠI

Biến cố ngã ngựa đã ghi dấu đậm nét trong cuộc đời Phaolô. Sách Công vụ Tông đồ kể lại: thình lình ánh sáng từ trời loé rạng bao lấy ông. Không bao giờ Phaolô còn thoát được ra ngoài ánh sáng đó. Từ đó trở đi, Chúa Kitô đã trở thành tất cả đối với Phaolô. Từ đó trở đi, chỉ có Chúa Kitô là đáng kể

 

THÁNH PHAOLÔ TÔNG ĐỒ TRỞ LẠI

Lời Chúa: Cv 9,1-22; 1Cr 7,29-31; Mc 16,15-18

MỤC LỤC

THÁNH PHAOLÔ TÔNG ĐỒ TRỞ LẠI2

1. Cú ngã ngựa lịch sử – Lm Nguyễn Hữu An. 2

2. Con phải làm gì? – Lm Nguyễn Cao Siêu.8

3. Tông đồ cuối cùng Phaolô trở lại – JM.11

4. Thánh Phaolô ngã ngựa – ĐGM. Vũ Duy Thống. 13

5. Thánh Phaolô trở lại16

6. Thánh Phaolô trở lại18

 

 

 

 THÁNH PHAOLÔ TÔNG ĐỒ TRỞ LẠI

1. Cú ngã ngựa lịch sử – Lm Nguyễn Hữu An

Đọc lại cuộc đời Thánh Phaolô, ta nhận thấy sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Ơn Gọi Tông Đồ quả là một mầu nhiệm lạ lùng.

Đọc Công vụ Tông đồ từ chương 8 trở đi, ta sẽ bắt gặp một Saolô, ở Tacxô, là người Do thái, trí thức, thông thạo nhiều thứ tiếng miền Do thái – Hy lạp, rất sùng đạo theo môn phái Gamaliên ở Giêrusalem. Saolô là biệt phái nhiệt thành đi lùng sục bắt bớ Đạo Chúa, tham gia vào vụ giết Têphanô và rong ruổi mọi đường Đamát truy lùng các Kitô hữu.

Được ơn trở lại qua cú ngã ngựa trên đường Đamat, Saolô được biến đổi để trở nên chứng nhân vĩ đại là Phaolô, Tông Đồ dân ngoại. Từ đây cuộc đời của Phaolô đã viết nên thiên anh hùng ca. Thiên anh hùng ca của vị Tông Đồ đã sống và đã chết cho Đức Kitô.

Cuộc sống bôn ba vì Nước Trời được điểm tô muôn ngàn vạn nét đẹp của Phaolô mãi mãi được hát lên như một bài ca khải hoàn "Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, gươm giáo?... Vì tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, hay bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ tạo vật nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (Rm 8, 35-39).

Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống đã viết rằng: nét đẹp nhất nơi Phaolô là cú ngã ngựa lịch sử. Cuộc đời Thánh Phaolô có nhiều hình ảnh đẹp. Chẳng hạn khi ngài xuất thần thì được đưa lên tầng trời thứ ba; chẳng hạn khi ngài ứng khẩu rao giảng Tin Mừng nơi Nghị viện Hylạp; chẳng hạn khi Ngài lênh đênh trên biển đi tìm vùng đất mới đem về cho Chúa bao nhiêu linh hồn; và còn rất nhiều hình ảnh đẹp khác nữa. Nhưng tại sao Giáo Hội không chọn trong số những hình ảnh đẹp ấy, mà lại lấy hình ảnh ngã ngựa để đem mừng kính trong một ngày lễ? Thưa vì đó là một biến cố quan trọng phân chia cuộc đời ngài ra làm hai nửa theo hai hướng đối nghịch nhau, nhưng cùng làm nên một cuộc đời có tội lỗi và ân sủng, có yếu đuối và sức mạnh, đồng thời cũng có thất bại và thành công.

Hai hình ảnh ấy dường như hội tụ lại trong chân dung thánh Phaolô ngã ngựa mà Giáo hội mừng kính hôm nay.

1. Cú ngã ngựa chia đôi cuộc đời.

- Về danh xưng, nửa đời trước là Saolô với một câu hỏi "tại sao?" đang cưỡi ngựa vút lao đi tìm giải đáp cho cuộc đời; còn nửa đời sau là "Phaolô" đã trở thành chiếc phao cứu tử cho cả lô linh hồn ngài gặp trên đường truyền giáo.

- Về vị thế, nửa đời trước là một người Biệt phái chính cống, được giáo dục đường hoàng bởi ông thầy trứ danh Gamaliel, nhiệt thành với truyền thống cha ông; còn nửa đời sau là một vị Tông đồ thông minh uyên bác, vô cùng nhiệt thành với tình yêu Thiên Chúa, như ngài thú nhận "tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi"

- Về hoạt động, nửa đời trước là một chàng thanh niên tin tưởng cuồng nhiệt vào luật lệ Do Thái, tự tay vấy máu trong những cuộc bách hại Kitô hữu, cụ thể là cộng tác vào việc ném đá Stêphanô và tự ý đến xin các Thượng tế cấp giấy phép cho mình được quyền bắt bớ bất cứ ai tin vào Chúa Kitô nơi Hội đường Do Thái; thế mà nửa đời sau lại trở thành một người hăng say can đảm tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Kitô mà ông đã bách hại trước đó, bất kể ánh nhìn e dè nghi ngại của những người Kitô hữu và bất kể sự nguy hại tính mạng do những người Biệt phái cũ của ông.

- Về tình cảm, nửa đời trước là một Saolô mù quáng hận thù, nhưng từ khi gặp được ánh sáng Chúa Kitô bao phủ, ông đã bị choáng ngợp mù lòa, để cặp mắt mình được thanh tẩy, mở đầu cho một nửa đời khác bước đi trong ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa.

- Về hướng đi bản thân, nửa đời trước là một Saolô kiêu căng tin vào sức mạnh của con người, đang xây dựng những mưu đồ tiến thân của mình, bất kể những khổ đau của người khác; nhưng nửa đời sau là một Phaolô bị quật ngã biết mình yếu đuối, nên chỉ tin vào sức mạnh của Thiên Chúa, đang gieo bước hân hoan trong ý hướng hiến thân phụng sự Thiên Chúa bất kể những đau khổ mình phải chịu: "Tôi có thể làm mọi sự trong Đấng là sức mạnh tôi".

Tóm lại, biến cố ngã ngựa là một tổng hợp tiêu biểu cho cuộc đời Thánh Phaolô. Nó nói lên sự thất bại của mưu đồ của con người và xác định sự thành công trong ý hướng Thiên Chúa. (x Bài giảng Chúa nhật, Tổng GP Sàigòn, tháng 01. 2008).

2. Cú ngã ngựa, một dấu ấn không phai.

Biến cố ngã ngựa đã ghi dấu đậm nét trong cuộc đời Phaolô. Sách Công vụ Tông đồ kể lại: thình lình ánh sáng từ trời loé rạng bao lấy ông. Không bao giờ Phaolô còn thoát được ra ngoài ánh sáng đó. Từ đó trở đi, Chúa Kitô đã trở thành tất cả đối với Phaolô. Từ đó trở đi, chỉ có Chúa Kitô là đáng kể. Khi đã biết Chúa Kitô thì "Những điều kể được như lợi lộc cho tôi đó, tôi đã coi là thua lỗ bất lợi vì Đức Kitô. Mà chẳng những thế, tôi còn coi mọi sự hết thảy là thua lỗ, là bất lợi cả, vì cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa tôi. Vì Ngài, tôi đành thua lỗ mọi sự và coi là phân bón cả, để lợi được Đức Kitô, và được thuộc về Ngài, không có sự sông chính của riêng tôi, sự công chính nại vào Lề luật, song là sự công chính nhờ vào lòng tin của Đức Kitô... ( Pl 3, 7-9). Từ đó trở đi, Phaolô hiên ngang vì tư cách làm môn đệ Chúa Kitô và với tư cách ấy Ngài tuyên xưng sự duy nhất, sự bình đẳng, tình huynh đệ thực sự giữa tất cả mọi người: "vì anh em, phàm ai đã được thanh tẩy trong Đức Kitô, thì đã được mặc lấy Đức Kitô: không còn Do thái hay Hy lạp; không còn nô lệ hay tự do; không còn nam hay nữ; vì anh em hết thảy là một trong Đức Kitô Giêsu" (Gal 3, 27-28). Vì Đức Kitô là "tất cả mọi sự và trong mọi người" ( Cl 3, 11). Phaolô hiên ngang được sống và được chết cho Chúa Kitô. Biết mình đã tin vào ai, Phaolô đã sung sướng sống nghèo, lấy việc lao động mà đổi miếng ăn, không để giáo hữu phải cung phụng mình (1Cr 9, 3-18; 2Cr 11, 8-10), sung sướng vì đã mất tất cả và chịu đủ thứ khốn khổ vì Chúa Kitô. Phaolô không ngại trở nên hùng hồn kể về những "... lao tù đòn vọt, bao lần suýt chết, năm lần bị người do thái đánh bốn mươi roi bớt một, ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném đá, ba lần bị đắm tàu, một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi"; Phải chịu đủ thứ nguy hiểm bởi "phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em;phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng" (2Cor 11, 23-27). Phaolô ra vào tù nhiều lần. Có lần Ngài viết từ ngục thất cho Timôthê, người môn đệ có khi không khỏi nao núng:" anh đừng hổ thẹn làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng hổ thẹn vì tôi, là kẻ bị tù vì Ngài". Phaolô không hổ thẹn vì tôi biết tôi đã tin vào ai... (2 Tim 1, 8-12). Vì đức Kitô "tôi phải lao đao khốn khó đến cả xiềng xích như kẻ gian phi, nhưng Lời Thiên Chúa không bị xiềng xích" (2Tim 2, 9). Phaolô đã sung sướng tự hào cả khi ý thức những yếu đuối của mình "Ơn Ta đủ cho con vì chưng quyền năng trong yếu đuối mới viên thành" (2Cor 12, 9). Không gì có thể làm nao núng lòng tin ấy "chúng tôi bị dồn ép mọi mặt nhưng không bị nghẽn; lâm bĩ nhưng không mạt lộ; bị bắt bớ nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã nhưng không bị tiêu diệt" (2Cor 4, 8-9) Phaolô nhiệt thành loan truyền Chúa Kitô với tất cả thao thức "Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin mừng" (1Cor 5,14).. Ngài luôn sống trong niềm tin tưởng yêu mến vào Đấng đã kêu gọi Ngài " tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, là Đấng yêu mến tôi và thí mạng vì tôi"(Gal 2, 20).

3. Những cú "ngã ngựa" trong đời tín hữu.

Biến cố ngã ngựa đã chia đôi cuộc đời Thánh Phaolô. Từ một kẻ thù, Chúa đã biến ngài thành một người bạn, một người tình. Từ một người đi lùng bắt những Kitô hữu, Chúa đã biến ngài trở thành người rao giảng về Người và sẵn sàng chết vì Người.

Phaolô đã viết những lời thật cảm động: "Không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô. Dù là gian truân, bĩ cực, đói khát trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo.... Tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, dù quyền năng, dù chiều cao hay chiều sâu hay bất cứ tạo vật nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa được thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta" (x. 2 Tm 4, 6-8; Rm 8, 18-19. 32. 33. 38. 39)

Nhìn vào biến cố "ngã ngựa" của Thánh Phaolô để rồi nhìn lại cuộc đời mình, biết đâu ta cũng gặp thấy rất nhiều những cú "ngã ngựa". Có những cú "ngã ngựa" trong đời sống thiêng liêng liên hệ với Chúa; có những cú "ngã ngựa" trong đời sống tình cảm liên hệ với tha nhân; có những cú "ngã ngựa" trong đời sống chiến đấu nội tâm; và có những cú "ngã ngựa" trong đời sống xác thân bên ngoài như công ăn việc làm, học hành, danh dự, tình yêu, tương lai, hạnh phúc, sức khỏe...

Nhưng điều quan trọng là đừng nhìn "ngã ngựa" chỉ như một thất bại để rồi cuốn theo thất vọng quỵ ngã không gượng dậy được. Hãy nhìn "ngã ngựa" như một thất bại cho một thành công lớn hơn trong ơn thánh. Ăn trái cấm là một thất bại của Ađam - Evà trong quyền làm chủ, nhưng lại là một điều kiện bật mở chương trình cứu độ với việc Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. "Tội hồng phúc" là thế. Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một thất bại đau đớn trước mặt trần thế, lại là một thành công trong chiến thắng cứu độ vinh quang.

Và cú "ngã ngựa" của Thánh Phaolô hôm nay là một thất bại chấm dứt cuộc đời săn bắt Kitô hữu, nhưng lại là một thành công mở đầu cuộc sống lên đường truyền giáo của vị Tông đồ dân ngoại.

Như vậy người ngã ngựa không chỉ nhìn vào mình để cay cú cuộc đời, mà nhìn vào Chúa để tìm sức mạnh đứng lên trong ánh sánh niềm tin. Nếu "ngã ngựa" là điều không thể tránh được, thì điều quan trọng là luôn sẵn sàng để biết đứng dậy. Không phải khi ngã người ta trở nên mạnh mẽ mà là khi biết đứng dậy người ta mới chứng minh được bản lĩnh mạnh mẽ của mình.

 

 

2. Con phải làm gì? – Lm Nguyễn Cao Siêu.

Chúng ta cũng có những kinh nghiệm như Phaolô:

ngã ngựa, mù lòa, nghe và gặp Đức Kitô, rồi hoán cải.

Như Phaolô, mong chúng ta

để cho Đức Kitô Giêsu chiếm lấy mình,

và trở nên người tông đồ nhiệt thành cho thế giới.

Suy niệm:

Bài sách Công vụ Tông đồ hôm nay kể về một cuộc gặp gỡ lạ lùng

giữa Đức Giêsu Nadarét với anh Saun, kẻ đang bách hại các Kitô hữu.

Chính Ngài muốn gặp anh trên con đường anh đang đi.

Dưới mắt Saun, Kitô hữu là những kẻ bỏ đạo Do Thái chính thống,

để chạy theo một tà phái của ông Giêsu nào đó mà họ tin là đã phục sinh.

Trong tư cách là một người Pharisêu nhiệt thành và nghiêm túc (c. 3),

Sa-un thấy mình có bổn phận phải trừng trị những kẻ phản đạo,

bằng cách bắt bớ, xiềng xích, tống ngục, thậm chí thủ tiêu (cc. 4-5).

Chính lúc đang say sưa đến gần thành Đamát thì anh bị quật ngã.

Cuộc gặp gỡ bắt đầu, đời anh từ nay giở sang một trang mới.

Khi anh đang tự tin và hiên ngang tiến bước,

thì ánh sáng chói lòa từ trời làm anh ngã quỵ (c. 7).

Khi Saun nghĩ mình là người sáng mắt,

thì ngay giữa trưa, anh trở nên mù lòa (c. 11).

Khi anh định chỉ đạo cho những kẻ lầm đường lạc lối,

thì bây giờ anh lại cần một người cầm tay dắt đi (c. 11).

Cuộc đối thoại bắt đầu giữa anh với người mà anh chỉ nghe tiếng nói.

Ngài âu yếm gọi tên anh hai lần và tự giới thiệu:

“Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?

Ta là Giêsu Nadarét mà ngươi đang bắt bớ” (c. 8).

Bắt bớ các Kitô hữu là bắt bớ chính Đức Giêsu.

Đức Giêsu và các Kitô hữu là một.

Bài học đầu tiên này Saun sẽ chẳng thể nào quên.

“Lạy Chúa, con phải làm gì?” (c. 10).

Lần đầu tiên Saun gọi người mà anh không hề tin là Chúa.

Khi tuyên xưng Đức Giêsu Nadarét là Chúa,

anh lập tức phó thác cho Ngài, để Ngài chỉ bảo điều mình phải làm.

Nhưng Chúa Giêsu phục sinh đã không nói gì.

Ngài trao anh cho ông Khanania, một người chưa phải là Kitô hữu.

Chính ông này cho mắt anh thấy lại và cho anh biết

anh được chọn để làm chứng nhân cho Ngài trước mặt mọi người.

Đa-mát là nơi Đức Giêsu tỏ mình cho Saun, cũng được gọi là Phaolô,

là nơi ông nghe tiếng gọi trở nên tông đồ cho dân Ngoại,

và cũng là nơi khởi đầu cho cuộc hoán cải tận căn của ông.

Chính mặc khải của Đấng phục sinh dẫn đến ơn gọi và hoán cải.

Từ nay cuộc đời của Phaolô đi sang một hướng mới.

Giêsu đã trở nên trung tâm của đời ông.

“Tôi coi tất cả như đồ bỏ, để chiếm được Đức Kitô” (Ph 3, 8).

Biến cố trên đường đi Đamát đã chia đời ông làm hai.

“Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua,

để lao mình về phía trước” (Ph 3, 13).

Chúng ta cũng có những kinh nghiệm như Phaolô:

ngã ngựa, mù lòa, nghe và gặp Đức Kitô, rồi hoán cải.

Như Phaolô, mong chúng ta để cho Đức Kitô Giêsu chiếm lấy mình,

và trở nên người tông đồ nhiệt thành cho thế giới.

Cầu nguyện:

Xin hãy dẫn dắt con

đi từ cõi chết đến sự sống,

từ lầm lạc đến chân lý.

Xin hãy dẫn dắt con

đi từ thất vọng đến hy vọng,

từ sợ hãi đến tín thác.

Xin hãy dẫn dắt con

đi từ ghen ghét đến yêu thương,

từ chiến tranh đến hòa bình.

Xin hãy đổ đầy bình an

trong trái tim chúng con,

trong thế giới chúng con,

trong vũ trụ chúng con.

(Mẹ Têrêxa Calcutta)

 

 

 

 

3. Tông đồ cuối cùng Phaolô trở lại – JM.

Người ta gọi Ngài một biệt danh như thế, nhưng Ngài không được hân hạnh như nhóm 12 các ông, đã được trông thấy Người, được nghe, được đi theo sau khi được Người chọn các ông. Đối với 12 vị, Đức Kitô không phải là người xa lạ, đó là người cùng làng xóm. Một người cùng chi họ. Còn Phaolô, ông không bao giờ trông thấy Đức Kitô. Nếu ông là kẻ bắt bớ các tông đồ và các môn đệ, không phải vì các ông này tuyên xưng danh Đức Kitô, nhưng các ông cũng như Đức Kitô, đã làm rối trật tự, Phaolô là người biệt phái, công dân Rôma, môn sinh của các thầy nổi tiếng thời đó. Ông không đấu tranh chống lại một bóng ma, nhưng chống lại những kẻ theo một giáo lý mới làm điên cuồng.

Một thế hệ mới...

Phaolô đã là một người thuộc thế hệ mới của các tông đồ. Công vụ tông đồ kể lại một cách tóm tắt cho chúng ta đoán được Phaolô chắc chắn đã tiêu hao nhiều năm đi bắt bớ các tín hữu, trước khi bị té ngựa trước ánh sáng Đức Kitô. Sứ điệp của Đức Kitô đã ban bố và được đón nhận khắp xứ Giuđa. Trước khi Phaolô xuất hiện. Phêrô đã làm cho nhiều người ngoài Do Thái trở lại rửa tội.

Phaolô, một người thuộc thế hệ mới, vì ông sống trong nền văn hóa Hy lạp, được giáo dục Rôma. Và cuộc trở lại của ông là nhờ ơn Chúa biến đổi ông tận gốc.

Cho tới ông, Tin Mừng còn hạn chế chỉ giảng cho người Do Thái, trừ Phêrô mới giảng một lần cho dân ngoại. Nhưng khi đến thời giảng Tin Mừng cho dân ngoại, thì Phaolô trở thành một Tarrê, một bổn đạo mới đã được trao trách nhiệm rao giảng Tin Mừng cho muôn dân.

Thánh Thần đổi mới.

Phải trông cậy vào Thánh Thần, Ngài đến canh tân mọi sự, Thánh Thần muôn đời tươi trẻ. Ngài không bảo chúng ta phải chiều theo những tính hay thay đổi của tuổi trẻ, bắt chước những tính đó là làm trò hề và ngu muội, Ngài bảo chúng ta phải biết lắng nghe những gì cao đẹp và tươi trẻ, và thi hành trọn vẹn những đòi hỏi của chân lý của chân thành, của ân huệ và hướng dẫn những tính tự nhiên đó sống theo Thánh Thần.

Ước mong những người đạo lâu đời trở nên những người đầu trong tình yêu và tái sinh thành trẻ trung và đổi mới theo Thánh Thần.

 

 

4. Thánh Phaolô ngã ngựa – ĐGM. Vũ Duy Thống

(Trích trong ‘Làm Nụ Hoa Trắng’)

Cuộc đời thánh Phaolô có nhiều hình ảnh đẹp. Chẳng hạn khi ngài xuất thần được đưa lên tầng trời thứ ba; chẳng hạn khi ngài ứng khẩu rao giảng Tin Mừng nơi Nghị viện Hy Lạp; chẳng hạn khi ngài lênh đênh trên biển tìm vùng đất mới đem về cho Chúa bao nhiêu linh hồn; và còn rất nhiều hình ảnh đẹp khác nữa. Nhưng tại sao Giáo Hội không chọn trong số những hình ảnh đẹp ấy, mà lại lấy hình ảnh ngã ngựa để đem mừng kính trong một ngày lễ?

Thưa vì hình ảnh đó là một biến cố quan trọng phân chia cuộc đời ngài ra làm hai nửa theo hai hướng đối nghịch nhau, nhưng cùng làm nên một cuộc đời có tội lỗi và ân sủng, có yếu đuối và sức mạnh, đồng thời cũng có thất bại và thành công.

Hai nửa đời ấy dường như hội tụ lại trong hình ảnh thánh Phaolô ngã ngựa hôm nay.

1) Cú ngã ngựa cũng là ngã rẽ cuộc đời.

Về danh xưng, nửa đời trước là “Saolô” với một câu hỏi “tại sao?” đang cỡi ngựa vút lao đi tìm giải đáp cho cuộc đời; còn nửa đời sau là “Phaolô” đã trở thành chiếc phao cứu tử cho cả linh hồn ngài gặp trên đường truyền giáo.

Về vị thế, nửa đời trước là một người Biệt phái chính cống, được giáo dục đường hoàng bởi ông thầy trứ danh Gamaliel, nhiệt thành với truyền thống cha ông; còn nửa đời sau là một vị tông đồ thông minh uyên bác, vô cùng nhiệt thành với tình yêu Thiên Chúa, như ngài thú nhận “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi”.

Về hoạt động, nửa đời trước là một chàng thanh niên tin tưởng cuồng nhiệt vào luật lệ Do Thái, tự tay vấy máu trong những cuộc bách hại Kitô hữu, cụ thể là cộng tác vào việc ném đá Stêphanô và tự ý đến xin các thượng tế cấp giấy phép cho mình được quyền bắt bớ bất cứ ai tin vào Chúa Kitô nơi Hội đường Do Thái; thế mà nửa đời sau lại trở thành một người hăng say can đảm tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Kitô mà ông đã bách hại trước đó, bất kể ánh nhìn e dè nghi ngại của những Kitô hữu và bất kể sự nguy hại tính mạng do những người bạn biệt phái cũ của ông.

Về tình cảm, nửa đời trước là một Saolô mù quáng hận thù, nhưng từ lúc gặp được ánh sáng Chúa Kitô bao phủ, ông đã bị choáng ngợp mù lòa, để cặp mắt mình được thanh tẩy, mở đầu cho một nửa đời khác bước đi trong ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa.

Về hướng đi bản thân, nửa đời trước là một Saolô kiêu căng tin vào sức mạnh của con người, đang xây dựng những mưu đồ tiến thân của mình, bất kể những khổ đau của người khác; nhưng nửa đời sau là một Phaolô bị quật ngã biết mình yếu đuối, nên chỉ tin vào sức mạnh của Thiên Chúa, đang gieo bước hân hoan trong ý hướng hiến thân phụng sự Thiên Chúa bất kể những đau khổ mình phải chịu: “Tôi có thể làm mọi sự trong Đấng là sức mạnh tôi”.

Tóm lại, biến cố ngã ngựa là một tổng hợp tiêu biểu cho cuộc đời thánh Phaolô. Nó nói lên sự thất bại của mưu đồ con người và xác định sự thành công trong ý hướng Thiên Chúa.

2) Những cú ngã ngựa trong đời tín hữu

Nhìn vào biến cố “ngã ngựa” của thánh Phaolô để rồi nhìn lại cuộc đời mình, biết đâu ta cũng gặp nhan nhản những cú “ngã ngựa”. Có những cú ngã ngựa trong đời sống thiêng liêng liên hệ với Chúa; có những cú ngã ngựa trong đời sống tình cảm liên hệ với tha nhân; có những cú ngã ngựa trong đời sống chiến đấu nội tâm; và cũng có những cú ngã ngựa đau điếng trong đời sống xác thân bên ngoài như công ăn việc làm, học hành, danh dự, tình yêu, tương lai, hạnh phúc, sức khỏe…

Nhưng điều quan trọng là đừng nhìn “ngã ngựa” chỉ như một thất bại để rồi cuốn theo thất vọng quỵ ngã không gượng dậy được, mà hãy nhìn “ngã ngựa” như một thất bại làm điều kiện cho một thành công lớn hơn trong ơn thánh. Ăn trái cấm là một thất bại của Adam Evà trong quyền làm chủ, nhưng lại là một điều kiện bật mở chương trình cứu độ với việc Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. “Tội hồng phúc” là thế. Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một thất bại đau đớn trước mặt trần thế, nhưng lại là một thành công trong chiến thắng cứu độ vinh quang. Và cú “ngã ngựa” của thánh Phaolô hôm nay là một thất bại chấm dứt quãng đời săn bắt Kitô hữu, nhưng lại là một thành công mở đầu cuộc sống lên đường truyền giáo của vị tông đồ.

Như vậy, người ngã ngựa không nhìn vào mình để chỉ cay cú cuộc đời, mà nhìn vào Chúa để tìm sức mạnh đứng lên trong ánh sáng niềm tin. Nếu “ngã ngựa” là điều không thể tránh được, thì điều quan trọng là luôn sẵn sàng để biết đứng dậy. Không phải khi ngã người ta trở nên mạnh mẽ mà là khi biết đứng dậy người ta mới chứng minh được bản lĩnh mạnh mẽ của mình.

 

 

5. Thánh Phaolô trở lại

Hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm biến cố trở lại của Thánh Phaolô. Theo Sách Công Vụ các sứ đồ, quyển sử ký ghi lại giai đoạn tiên khởi của Giáo Hội, Saolê, tên gọi Do Thái của Phaolô, là một thanh niên thông thái và đầy nhiệt huyết đối với Đạo. Vừa thụ huấn xong với một thày Rabbi nổi tiếng trong nước, Saolê xung phong đi săn lùng những người môn đệ của Đức Kitô mà anh cho là một bè phái đi ngược lại với đạo giáo.

Một hôm, đang trên đường đi Damascô để lùng bắt các môn đệ của Chúa Giêsu, anh đã bị một luồng Sáng đánh quật té xuống khỏi ngựa và từ trong ánh sáng ấy, anh đã nhận ra tiếng nói của Chúa Giêsu: “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt hại”.

Từ đó, sự hăng say bách hại các kitô hữu đã biến thành lòng nhiệt thành phụng sự Giáo Hội của Đức Kitô. Thiên Chúa đã xử dụng Phaolô làm khí cụ Truyền Giảng Tin Mừng cho Dân Ngoại, tức là các dân tộc ở ngoài Do Thái giáo.

Cuộc trở lại của thánh Phaolô đã đánh dấu một khúc quanh quan trọng nhứt trong lịch sử của Giáo Hội tiên khởi. Tin Mừng không chỉ giới hạn trong ranh giới của Do Thái cũng như Lề Luật Maisen, Tin Mừng không còn là một nối dài của Do Thái giáo, nhưng chính là một tôn giáo mới cho mọi dân tộc mọi văn hóa.

Giáo Hội tưởng niệm biến cố trở lại của thánh Phaolô như cao điểm của tuần lễ cầu cho hiệp nhứt. Nơi thánh Phaolô, con người đã dám vượt ra khỏi ranh giới của dân tộc, của đạo giáo của mình, để tuyên bố: hãy trở thành Hy Lạp với người Hy Lạp, La Mã với người La Mã, nô lệ với người nô lệ. Giáo Hội nhận ra kiểu mẫu đích thực của hiệp nhứt. Sự hiệp nhứt chỉ có thể thực hiện được, nếu mỗi người môn đệ của Chúa Giêsu có đủ can đảm ra khỏi chính mình. Phải chăng đó không là đòi hỏi đầu tiên của sự trở lại?

Theo từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản khoa học xã hội, “trở lại” nghĩa là về nơi mình ra đi.

Nơi mình đã xuất phát, nơi mình đã ra đi đối với người Kitô chúng ta là gì nếu không phải là Thiên Chúa. Như vậy, trở lại chính là quay trở về với Thiên Chúa.

Sự quay trở lại ấy đòi hỏi một sự từ bỏ tận căn và một thái độ sẵn sàng tuyệt đối. Chúng ta hãy đọc lại cuộc trở lại của thánh Phaolô: Phaolô là một người thanh niên hăng say với lý tưởng. Lý tưởng của anh chính là phụng sự Chúa hết mình bằng cách tiêu diệt những kẻ mà anh cho là tà đạo. Nhưng trong phút chốc, lần ngã ngựa đau điếng cả người hôm đó đã buộc anh phải xoay chiều hoàn toàn: những gì anh cho là tà đạo trước kia nay anh phải xem là chính đạo. Phaolô phải quay ngược đường trở lại. Từ bỏ tất cả những gì mình hằng ôm ấp từ trước đến nay, từ bỏ con đường mình đang đi, Phaolô đã trở thành một khí cụ mềm nhũn trong tay Chúa.

Ra khỏi chính mình, từ bỏ chính mình để trở thành khí cụ trong tay Chúa: đó là đặc điểm của sự trở lại trong Kitô giáo chúng ta.

Sự trở lại đó không chỉ là sự quay về với Chúa của những người không tín ngưỡng, của những người từ một Giáo Hội khác, nhưng là đòi hỏi từng ngày của người kitô. Mỗi lúc một đến gần với cùng đích của chúng ta là chính Chúa: đó là lý tưởng của người kitô chúng ta.

Càng đến gần với Chúa, càng sẵn sàng trở nên khí cụ của Chúa, chúng ta càng đến gần với tha nhân.

Xin thánh Phaolô mà chúng ta tưởng niệm biến cố trở lại hôm nay, giúp chúng ta hiểu được sự trở lại đích thực mà người kitô chúng ta phải theo đuổi mỗi ngày.

 

 

 

6. Thánh Phaolô trở lại

Hôm nay chúng ta cùng với Giáo hội mừng ngày Thánh Phaolô được ơn trở lại, chúng ta cầu xin Chúa cho mọi người luôn được sống trong tình yêu mến Chúa và luôn trung thành với ơn gọi của mình trọn cả cuộc đời như Thánh Phaolô thuở xưa.

Bây giờ xin cho tôi được chia sẻ một vài suy nghĩ của tôi nhân dịp mừng ngày lễ trọng đại này.

I. Phaolô! Ngài là ai vậy?

Thật rất khó mà có được một bài trình bày đầy đủ và vắn tắt về con người đặc biệt này. Vì ở nơi con ngưởi này có quá nhiều vấn đề và quá nhiều điều phải nói. Ở đây tôi chỉ xin được nói về một ít đểm nổi bật trong cuộc đời của Ông

Tin Mừng không có một chữ nào nói về ông.

1. Chúng ta chỉ được biết về ông sau khi Chúa Giêsu đã về trời.

Nhưng trong sách Tông Đồ công Vụ thì hình ảnh Ông nổi bật nhất. Với sách TĐCV thì hình ảnh của ông sáng chói như một vì sao, một vì sao cực sáng.

+ Ông là một con người có học thức. Ông đã từng học Kinh Thánh với Gíáo sư Gamaliel, một vị giáo sư về Kinh Thánh nổi tiếng thời đó.

+ Ông hiểu biết rất nhiều về thần thoại và hệ thống triết học rất thịnh hành thời đó.

+ Ông say mê với niềm tin tôn giáo. Ông tôn thờ Giavê Thiên Chúa và chỉ tôn thờ một mình Người.

+ Ông sống niềm tin đó một cách quyết liệt và hầu như không thể khoan nhượng đối với những ai dám xúc phạm đến niềm tin đó.

+ Chắc chắn ông đã từng nghe nói về Chúa Giêsu,

Đối với Ông, thì Giêsu Nagiareth là Con Người có thật

Con người ấy đã sinh ra tại Belem và lớn lên ở Nagiareth: Điều ấy ai cũng biết.

Con người ấy đã giảng dạy, đã lôi cuốn được đám đông. đã chữa lành được bệnh tật, đã phục sinh được cả người chết. Tóm lại đã làm được rất nhiều việc mà những người khác không làm được

Đó là một con người có kiến thức và hiểu sâu biết rộng,

Một Con người biết rất rõ về Mosê và các tiên tri,

Một Con người có uy quyền khi giảng dạy,

Một Con người có những cái nhìn độc đáo và cách trình bày rất sáng sủa về những vấn đề khó khăn nhất,

Và đặc biệt nhất là một con người có một đời sống đạo đức và một lòng thương người không ai có thể sánh được

Đối với Ông, Đức Giêsu là một con người rất đặc biệt nhưng dù gì đi nữa thì cũng chỉ là một Con người không hơn không kém. Chính vì thế mà khi thấy Ngài có những hành động và công việc vượt quá giới hạn của một con người thì Ông không thể chịu nổi.

Là một người biệt phái như Ông, Ông không thể nào chấp nhận được một Ông Giêsu dám vi phạm ngày hưu lễ,

dám xúc phạm đến tập tục của tiền nhân,

dám làm loạn xua đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ,

dám tự cho mình có quyền tha tội,

dám thoải mái tiếp xúc với người người mà luật pháp đã cấm kỵ,

dám đồng bàn với những người luật pháp đã loại trừ

nhất là dám xúc phạm đến đền thờ của Thiên Chúa

và táo bạo hơn dám xưng mình là Con Thiên Chúa

Với tâm hồn của một người sùng đạo, Ông cảm thấy phải làm cho ra lẽ, không thể nào khoan nhượng trước những hành động ngang ngược như vậy và ông đã tự hứa phải ra tay để để tiêu diệt thứ "tà đạo" này để trả lại sự tinh tuyền cho Đạo,

trả lại trật tự cho đời sống đạo đức

và trả lại địa vị độc tôn cho Thiên Chúa

Ông sẽ hành động để làm vinh danh Thiên Chúa Israel

Thiên Chúa chính danh và hằng sống

Thiên Chúa duy nhất và hay ghen

Ông nhất quyết đi đến bất cứ nơi nào có người tin vào Ông Giêsu

Ông sẽ đưa họ ra trước công nghị để họ đối đáp với ông, để xem họ sai lầm đến mức độ như thế nào và nếu cần thì giết họ đi, giết vài trăm người để cho Đạo Israel đứng vững thì đó cũng là điều đáng làm.

2. Ông đã nghĩ và ông quyết làm

Bài sách thánh thứ I vừa mới thuật lại cho chúng ta nghe cuộc hành trình đưa ông đến Damas.

Ông hăng say vượt qua con đường dài đến 250 Cây số để mong lôi được nhóm tà đạo này về Giêrusalem để trị tội.

Ông tưởng ông sẽ thành công

Thế nhưng có nhưng có ngờ đâu, chính lúc ông đang hăm hở, hăng say với những tính toán đầy chết chóc như vậy thì Chúa chặn đường Ông: một luồng sáng chụp lấy ông làm cho ông phải té ngã từ trên lưng ngựa xuống.

Ông không còn thấy gì nữa.

Rồi ông nghe thấy có tiếng gọi ông

"Saolô!Saolô...Sao ngươi bắt bớ Ta?

Ông hỏi lại: "Thưa Ngài, Ngài là ai?

Có tiếng đáp lại: "Ta là Giêsu ngươi đang tìm bắt. Song hãy chỗi dậy và vào thành, người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì. " (CVTD 9,5-8)

Ông không thể nào hiểu nổi.

Chẳng ai mà hiểu nổi cách hành động của Chúa.

Chính Thầy cả Khanania khi được lệnh của Chúa cũng phải sửng sốt.

Rồi sau khi được Khanania làm phép rửa, ông bắt đầu sự nghiệp cuộc đời mới của mình tại chính nơi mà ông định đến đó để bắt giữ. Ông đã làm chứng tại Damas những ông chỉ tạo được sự ngạc nhiên và chưng hửng của những người đến nghe. Ông đã tích cực những chưa giúp đỡ được ai. Không ai nghe ông, không ai chấp nhận được đức tin của ông. Công trình của Thiên Chúa qua ông vẫn còn rất nhiều trở ngại.

Chúa đã cho ông gặp những khó khăn như thế để ông thấy được giới hạn của mình, thấy được sự bất lực của mình, thấy được sự yếu đuối của mình. Chính vì thế mà ông đã bỏ Damas để sang bên Ả Rập sống trong thanh vắng để tĩnh tâm, để học hỏi và để cầu nguyện.

Ba năm trời ông nghiền ngẫm Kinh Thánh.

Với sự soi sáng hướng đẫn đặc biệt và trực tiếp của Chúa Thánh Thần, Ông cảm thấy mình đã đủ lông đủ cánh,

Ông cảm thấy ông không còn phải là ông nữa mà Chúa đã hoàn toàn chiếm đoạt tâm hồn ông: "Tôi sống những không phải là tôi sống mà là Đức Kitô sống ở trong tôi".

Thế là ông cất bước lên đường, bất chấp mọi hiểm nguy, gian truân, tù đầy, săn đuổi, hành hạ, ném đá, đánh đập, cầm tù, xiềng xích, chửi bới, lăng nhục, chết chóc....Ông chấp nhận tất cả miễn là Chúa được vinh danh.

Nơi nào cần biết đến Tin Mừng là ông có mặt: Antiokia, Cyprô, Lystra, Derbê, Troy, Phillip, Thessalonica. Athena, Côrinthô, Ephêsô, Giêrusalem và cả Roma.Và bất kể người ai, bất kể ng nào: ngoại giáo, nô lệ, tự do, hễ ai muốn được nghe Tin Mừng là ông sẵn sàng giảng cho họ.

Vấn đề ông đặt ra thật rõ ràng:

Tin Đức Kitô hay chối bỏ Đức Kitô

Đức Kitô là đường hay là một trở ngại

Không ai nghe Phaolô xong mà lại dửng dưng, hoặc là nhiệt thành ở về phe của ông hoặc là la ó chống lại ông

Đối với ông không có "nếu", không có "và", không có "nhưng" chỉ có "hoặc"...."hoặc"

II. Bài học

1. Uy quyền của Chúa.

- Chúa muốn làm gì, làm.

+ Xét về phương diện loài người thì Phaolô quả là không xứng đáng. Một kẻ thù của Chúa lại trở thành tông đồ của Ngài. Thật là phi lý.

Từ một kẻ thù Chúa đã biến ông thành một người bạn, một người tình.

Từ một người đi lùng bắt những người theo Chúa mà giết đi. Chúa đã biến ông trở thành người rao giảng về Người và sãn sàng chết cho Người.

Về phương diện trần thế chẳng khi nào chúng ta thấy được như vậy, Những Chúa đã thực hiện những điều đó ngay trước mặt mọi người. Dù muốn hay không muốn, dù tin hay không tin đó vẫn là sự thật Chúa đã làm

2. Bài học về lòng yêu mến Chúa

+ Phaolô đã viết những lời thật cảm động sau đây: "Không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô. Dù là gian truân, bĩ cực, đói khát trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo….Tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, dù quyền năng, dù chiều cao hay ciều sâu hay bất cứ tạo vật nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa được thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta" (Xem 2 Tm 4,6-8 Rm 8,18-19.32.33.38.39)

3. Bài học về sự gắn bó và lòng trung thành đối với Chúa.

+ Phaolô: "Còn tôi, tôi sắp phải đỗ máu ra làm lễ tế. Đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã chiến đấu trong một trận chiến cao đẹp, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững được đức tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi trông vòng hoa dành cho người công chính. Chúa là vị Thẩm phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong ngày ấy và không phải chỉ cho tôi mà còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện."

 

Nguồn tin: http://www.kinhthanhvn.org

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn