03:44 ICT Thứ sáu, 28/04/2017

Trang nhất » Tin Tức » Suy Niệm Lời Chúa

SUY NIỆM TIN MỪNG TAM NHẬT THÁNH -C

Thứ sáu - 29/03/2013 10:41
Tông đồ Gio-an khảng định: giờ Đức Giê-su ra đi chịu chết chính là đỉnh điểm (kairos) của đời sống Con Người (xem Ga chương 12 câu 27-34). Đó là thời điểm và cách thức mà Giê-su - Cứu Chúa có thể diễn đạt tình yêu của Thiên Chúa cách trọn vẹn nhất.

 

LỜI CHÚA LÀ NGỌN ĐÈN SOI CHO CON BƯỚC,

LÀ ÁNH SÁNG CHỈ ĐƯỜNG CON ĐI”. (Thánh vịnh 119, câu 105).

Mục lục:

 

SUY NIỆM TIN MỪNG TAM NHẬT THÁNH -C

Yêu Thương Đến Cùng – Thứ 5 TT

 Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

Trg 2

Giọt Máu Cùng Nước Cuối Cùng – Thứ 6 TT

 Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

Trg 4

Phục Sinh Của Lòng Thương Xót – Vọng PS

 Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

Trg 6

Linh Mục Sống Cho Người Nghèo – Thứ 5 TT

 Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền

Trg 8

Tình Đơn Phương – Thứ 6 TT

 Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền

Trg 10

Con Người Hơn Loài Vật – 

 Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền

Trg 12

Giải Nghĩa Yêu – Thứ 5 TT

 Lm. Inhaxiô Trần Ngà                   

Trg 14

ThápNhậpVàoThânMìnhChúaGiêsu – Vọng PS

 Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Trg 15

Tưởng Niệm – Thư 5 TT

 Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Trg 17

Thương Khó – Thứ 6 TT

 Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Trg 19

Ngày Thánh – Thứ 7 TT

 Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Trg 21

Thầy Mà Lại Rửa Chân Cho Con Sao ?

 AM. Trần Bình An

Trg 24

 

THẦY YÊU THƯƠNG ĐẾN CÙNG

THỨ NĂM TUẦN THÁNH Ga 13,1-15

 

Tông đồ Gio-an khảng định: giờ Đức Giê-su ra đi chịu chết chính là đỉnh điểm (kairos) của đời sống Con Người (xem Ga chương 12 câu 27-34). Đó là thời điểm và cách thức mà Giê-su - Cứu Chúa có thể diễn đạt tình yêu của Thiên Chúa cách trọn vẹn nhất. “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng”. Tình yêu đó sẽ ôm ấp mọi con người, không loại trừ bất cứ ai, trong trường hợp cụ thể này kể cả Giu-đa lẫn Phê-rô, những kẻ đang rắp tâm phản bội hoặc yếu đuối bội phản Thầy. Tình yêu Thiên Chúa bao dung và rộng mở không biên giới; nhưng vấn đề chính ở đây là liệu người ta có sẵn lòng đón nhận tình yêu đó hay không. Vấn đề này về mặt lý thuyết xem ra rất đơn giản, nhưng trên thực tế lại không dễ dàng được chấp nhận. Câu chuyện được Gio-an ghi nhận là một minh họa rõ nét: trước khi lên đường đi chịu chết Đức Giê-su đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Điều gì xảy ra vào buổi chiều hôm đó cũng có thể xảy ra cho bất cứ ai, ở bất cứ đâu và vào bất kỳ thời đại nào.

 

Trong tấn kịch này, vai diễn của Phê-rô có phần nổi trội. Phản ứng của ông có thể là hoàn toàn riêng tư; nhưng chắc chắn nó cũng biểu lộ thái độ chung mà nhiều môn đệ khác cùng chia sẻ: “Thầy mà lại rửa chân cho con sao?... Không đời nào con chịu đâu!”. Phản ứng này hoàn toàn hợp lý: làm sao môn đệ có thể để thầy cúi xuống rửa chân cho mình? Nếu Đức Giê-su không ép “nếu Thầy không rửa chân cho anh, anh sẽ chẳng được vào chung phần với Thầy” thì có lẽ Phê-rô sẽ chẳng bao giờ chịu chấp nhận, và các môn đệ khác cũng không nốt.

 

Thế đấy! Tin và chấp nhận một Thiên Chúa khiêm hạ tới độ hủy mình ra không không, chỉ vì yêu thương tôi, một con người tội lỗi thấp hèn, là không dễ chút nào. Tôi dễ dàng chấp nhận một Thiên Chúa uy nghi cao cả đòi buộc tôi phải giữ, phải tránh điều này điều nọ; một Thiên Chúa phán truyền mệnh lệnh; một Thiên Chúa thưởng phạt công minh…, nói chung một Thiên Chúa bề trên, kẻ cả; nhưng tôi lại thấy thật không thể chấp nhận nổi một Thiên Chúa đặt mình dưới cả tôi, trở nên thấp hèn hơn tôi, và sẵn sàng bị tước đoạt tất cả… một Thiên Chúa bề dưới… chỉ để yêu thương tôi. Tôi luôn có khuynh hướng tôn thờ, kính sợ Thiên Chúa, nhưng lại rất ái ngại đi sâu hơn nữa vào ‘lòng thương xót đến cùng’ của Người. Xét cho cùng thì tôi vẫn thấy Cựu Ước hay ‘thái độ kính sợ Chúa’ của mọi tôn giáo nói chung, dễ chấp nhận hơn là tinh thần tự hủy của Tân Ước, như Đức Ki-tô Giê-su đã thể hiện trên thập giá. Thiết tưởng đây chính là ‘cớ vấp phạm’lớn nhất của thập giá Đức Ki-tô mà Phao-lô đã từng đề cập tới, đặc biệt đối với những ai xưng mình là Ki-tô hữu (= người có đạo) qua mọi thời.

Thế nhưng, đối với Đức Ki-tô, thì “cớ vấp phạm” ấy lại là một điều kiện tiên quyết (sine qua non) “nếu Thầy không rửa chân cho anh, anh sẽ chẳng được vào chung phần với Thầy”. Câu này là một khảng định chứ không phải một lời mời gọi chung chung, một lời khuyên. Và ‘chung phần với Thầy’ chính là tham gia vào cái thứ tình yêu độc nhất vô nhị mà chỉ một mình Thiên Chúa trong Đức Ki-tô Giê-su thập giá mới có, yêu thương đến cùng, yêu tới độ hủy bỏ mình ra như không, đặt mình vào chỗ thấp nhất trong thiên hạ hầu có thể trao ban và phục vụ.

 

Thiết nghĩ ít ai trong chúng ta (kể cả các linh mục, tu sĩ) đã không vấp phạm về điều này ít là một lần trong đời. Lấy một thí dụ nhỏ, có ai trong chúng ta đã từng nghĩ rằng: các việc bác ái mình làm nhiều khi thật nông cạn và chẳng Tin Mừng tí nào? Bao lâu ta còn chưa chịu để cho Chúa ‘rửa chân’ cho, bấy lâu ta còn thi hành một thứ bác ái trịch thượng của bậc kẻ cả, phục vụ đấy mà trên thế thượng phong ban phát. Riêng với các linh mục cảm nghiệm còn phải cụ thể hơn nữa. Chẳng hạn có bao giờ linh mục ngồi vào tòa giải tội mà mang lấy tư thế mình còn thấp hèn hơn cả các hối nhân tới xưng tội, hoặc tiến ra cử hành Thánh Lễ, có cảm thấy Chúa lại cúi xuống rửa chân cho mình…, hoặc khi rước mình và máu thánh Chúa mà nghiệm thấy quá bất xứng vì  được Chúa biến thành miếng ăn nuôi sống con người tội lỗi và bất toàn như mình? Nhiều lần khi cho rước lễ tôi đã tận mắt chứng kiến việc Chúa đi vào các môi miệng, được trao vào các bàn tay mà đôi khi chính bản thân mình còn cảm thấy rờn rợn? Thế đấy, chính vì ‘để Thày rửa chân cho’ thường xuyên bị lãng quên và bác ái rất ít khi thực sự là quên mình phục vụ, Thánh Lễ nặng về thờ phượng kính tôn hơn là “Người yêu thương họ đến cùng”, ‘Alter Christus’ mang nặng nội dung chức thánh địa vị hơn là ‘mục tử tự hiến’, “vào chung phần với Thầy” được cắt nghĩa là vào hưởng vinh quang thiên quốc hơn là tham dự vào tình yêu thập giá tự hủy của Đức Ki-tô…, và còn nhiều điều khác nữa.

 

Bài học ‘rửa chân’ thật quan trọng biết bao! Thế nhưng thật đáng tiếc nó thường bị coi là một biểu tượng cá biệt hơn là diễn tả hoàn hảo một mạc khải về tình yêu trao hiến phục vụ đích thực. Tệ hơn nữa nó còn bị thu hẹp thành một nghi thức phụng vụ được cử hành trong Thánh Lễ ngày Thứ Năm Tuần Thánh… và sau đó là kết thúc luôn, không còn được thực thi cách cụ thể trong cuộc sống đức tin của đời sống thường ngày.

 

Lạy Chúa Giê-su khiêm hạ vì yêu thương, xin cho con biết để cho chính con được Chúa rửa chân cho mỗi khi tiến ra cử hành Thánh Lễ để con cũng được ‘chung phần’ với tình yêu đến cùng của Thập Giá. Vinh quang thập giá chính là vinh quang của tự hủy phải được tỏ rạng nơi mọi linh mục của Chúa, bây giờ và luôn mãi. Xin cho con, trước khi dám ‘cùng chết với Chúa’, biết khiêm tốn chấp nhận để Chúa chết và tự hủy ra như không vì con và cho con. Amen

 

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

 

 

GIỌT MÁU CÙNG NƯỚC CUỐI CÙNG

THỨ SÁU TUẦN THÁNH Ga 18,1-19,42

 

Phụng vụ luôn dành trình thuật thương khó của Gio-an cho ngày Thứ Sáu Tuần Thánh vì bài này có một số chi tiết khác với các Phúc âm Nhất lãm. Tuy nhiên sự khác biệt lớn hơn hết có lẽ chính là giọng văn và tình cảm của một nhân chứng đã tận mắt chứng kiến biến cố trọng đại này. Chính tác giả Gio-an đã công khai tuyên bố: “Người đã xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin”.

 

Tất cả các chi tiết Gio-an mô tả trong bài thương khó của ông đều rất cụ thể và sống động, chẳng hạn như chi tiết “Tôi khát!” Được chính mình trải nghiệm trong giờ hấp hối, tôi thấy điều này thật cụ thể: cơn khát của một người sắp chết thật khủng khiếp. Nói gì thì nói, trong cơn khát cháy họng, hầu như cả mạng sống của một con người lệ thuộc vào vài giọt nước mát… Cụ thể và xác thực biết bao!

 

Nhưng trong số các chi tiết ông ghi nhận về cuộc thương khó, Gio-an đặc biệt quan tâm tới: “một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người, tức thì máu cùng nước chảy ra”. Gio-an khảng định chính mắt mình đã chứng kiến cảnh tượng này, vì đó là biến cố hầu như đã thay đổi sâu xa lối suy nghĩ, và có lẽ chính cuộc sống của ông. Đó cũng là cốt lõi của sứ điệp mà ông đã dành trọn phần còn lại của đời mình để loan truyền cho mọi người: “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến… chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa.” (1Ga 1,1.3) “Phần chúng tôi, chúng tôi đã chiêm ngưỡng và làm chứng rằng: Chúa Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng cứu độ thế gian.” (1Ga 4,14)

 

Để trả lời cho vấn nạn: ‘sự cứu độ đó là như thế nào?’ Gio-an đã khảng định: thưa, đó là một tình yêu dâng hiến trọn vẹn, yêu tới giọt máu cuối cùng, yêu bằng cả mạng sống mình. Và đối tượng của tình yêu đó là ai? Là một người đáng yêu, người tốt lành, cao thượng chăng? Thưa, không! Gioan tiếp tục: “Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một của Người đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta.” (1Ga 4,8-10) Nếu Gio-an đã từng được mệnh danh là Tông Đồ tình yêu, thì là vì ông đã được tận mắt chứng kiến cảnh tình yêu đó được biểu lộ cách huy hoàng và triệt để nhất trên thập giá, trên đó Giê-su đã đổ tới giọt máu cùng nước cuối cùng.

 

Phao-lô, tuy không có dịp được chiêm ngắm thập giá trực tiếp như Gio-an, nhưng tất cả những gì ông biết được về Đức Ki-tô Giê-su lại chính là ‘Đức Ki-tô Thập Giá’, mà ông luôn miệng khảng định: ‘tôi không biết một Đức Ki-tô nào khác’. Nhìn lên thập giá, Phao-lô đã nhận ra: “Đức Giê-su Ki-tô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2,6-8) Riêng với bản thân, Phao-lô đã cảm nghiệm cách thâm sâu: “tôi đặt niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô, Đấng yêu thương tôi và phó nộp mình cho tôi, ngay cả khi tôi phảm nghịch cùng Người”.

 

Nếu thế thì chính tôi, trong tư cách một linh mục, tôi nhận thấy điều gì nơi Thập giá? Hơn cả Gio-an chỉ đứng nhìn, hàng ngày tôi cử hành Thánh Lễ. Mỗi khi uống cạn chén Máu Thánh, được trực tiếp chạm vào máu và nước từ cạnh sườn Đức Giê-su chảy ra, tôi có nhận ra tình yêu tột cùng của Thiên Chúa dành cho một tội nhân như tôi? Đối với tôi thập giá mang ý nghĩa sống còn, hay chỉ là một biểu tượng chung chung? Tôi có còn mơ ước hay khâm phục một Giê-su nào khác, một Giê-su làm phép lạ, một Giê-su ban ân huệ này nọ, một Giê-su thông thái giảng dạy, một Giê-su uy nghi đến trong vinh quang để xét xử… hơn là một Giê-su chịu đóng đinh vì yêu thương tôi? Tôi sẽ chưa phải là linh mục của Đức Ki-tô, nếu tôi chưa chịu đóng đinh, chịu hiến mình… tới giọt máu cuối cùng. Được gọi là Linh Mục của Đức Ki-tô, và hàng ngày cử hành Thánh Lễ, thực tế tôi đang là gì và làm gì?

 

Lạy Đấng chịu đóng đinh và phó nộp cả mạng sống mình cho con, xin làm cho con được, như Gio-an, tựa đầu vào lồng ngực đầy yêu thương, để rồi nhận ra trong đó đang thoi thóp một quả tim đã cạn kiệt tới giọt máu cuối cùng vì yêu thương con. Con cảm tạ Chúa vì hồng ân linh mục con đã được trao ban, trước hết là vì lợi ích của chính con: được diễm phúc cử hành hiến tế Thập Giá mỗi ngày. Xin cho con có cắp mắt vả cõi lòng của Gio-an. Xin soi sáng và củng cố con để có được niềm xác tín và nhận thức của Phao-lô, nhờ thế Thập giá, phải, chính thập giá chứ không gì khác, sẽ trở nên gia sản và vinh quang lớn nhất của đời con. Amen

 

 

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

 

 

PHỤC SINH CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

CANH THỨC VƯỢT QUA Lc 24, 1-12

 

Phục Sinh, sự kiện vĩ đại về một con người đã bị đóng đinh trên thập tự giá tới chết và được mai tang trong mộ đá, nhưng đã trỗi dậy và ra khỏi mồ: đó quả là một biến cố có một không hai trong lịch sử loài người. Sự kiện này đúng là nền tảng niềm tin của mọi Ki-tô hữu qua mọi thời đại, thế nhưng nó lại chỉ được cả 04 Phúc âm tường thuật cách quá tẻ nhạt và tầm thường. Thậm chí, nếu so sánh với việc Chúa Hiển Dung trên núi Ta-bo, tôi thấy tường thuật thiếu đến cả các chi tiết tối thiểu: “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng.” ( Mt 17,2) Tất cả những gì được đề cập tới trong trình thuật phục sinh của các sách Tin Mừng chỉ đơn giản là ngôi mộ trống vắng và lời công bố giản dị: “Người không còn ở đây nữa, nhưng đã sống lại rồi!” Đôi lúc tôi cũng cảm thấy khó chịu về điều này; và như nhiều tín hữu trong các đám rước Chúa Phục Sinh, tôi muốn bù đắp bằng một hình ảnh vinh quang hơn: hình tượng Chúa uy nghi giơ cao cờ chiến thắng khải hoàn, ung dung bước ra khỏi ngôi mộ với ánh sáng chói lòa, giữa các thiên thần thờ lạy và các tên lính khiếp sợ.

 

Chắc chắn Chúa Phục Sinh có khía cạnh thể lý: một Giê-su đã gục chết trên thập giá, đã được hạ xuống và tẩm liệm, được mai táng trong phần mộ, mà nay được loan báo là đã sống lại. Sự kiện thể lý này là nền tảng cho việc tuyên xưng một trong các tín điều căn bản nhất của Ki-tô giáo: “Tôi tin kẻ chết sống lại”. Nhưng theo cách diễn tả của các sách Tin Mừng, khía cạnh thể lý xem ra chỉ là thứ yếu. Cũng như trong cuộc khổ nạn của Đức Giê-su, các đau khổ thể lý, cho dầu có được mô tả cách sinh động tới đâu thì ý chính vẫn là nói lên tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Phục Sinh cũng vậy, biến cố (đúng hơn là lời loan báo) Đức Giê-su ‘không còn đây nữa, nhưng đã sống lại rồi’, cũng phải nói lên được tình yêu cứu độ trong tất cả sức mạnh vô địch của nó: tình yêu của Thiên Chúa từ nhân đã dứt khoát và vĩnh viễn chiến thắng sự chết về mọi mặt, và sẽ tồn tại bất diệt. 

 

Theo Kinh Thánh thì chết thể lý chỉ là một trong các hậu quả của tội lỗi, và là hình bóng của một cái chết khác còn tệ hại hơn nhiều (St 2,17). Đức tin Công giáo dạy rằng tất cả chúng ta đều đã chết trong tội và cần tới ơn cứu độ để hoàn lại cho ta sự sống. Trong số các hình ảnh được dùng để diễn tả tội lỗi, chết là hình ảnh rõ ràng và trung thực nhất. Qua các thời đại, con người muốn dùng các nghi lễ tôn giáo để hoàn lại cho mình sự sống mà tội đã lấy mất. Các hình thức hoàn lương, đền tội, tu luyện và khổ chế đều mang cùng một mục đích đó. Nhưng trong thâm tâm tất cả đều biết rằng: chẳng một ai có quyền tha tội ngoại trừ một mình Thiên Chúa, cũng như chẳng ai có thể hoàn lại sự sống sau cái chết của tội lỗi ngoại trừ Thiên Chúa toàn năng (xem Ga 11,40-44). Ngày nay một số người (trong số đó có cả tín hữu – linh mục?) có khuynh hướng cho rằng tội chỉ là một yếu đuối, một cơn bệnh hay một khiếm khuyết nhất thời mà con người có nhiều cách để thắng vượt, nhiều cách để chữa trị, trong đó tâm lý học được coi như liều thuốc hữu hiệu nhất. Nếu tội chỉ là một căn bệnh cho dầu hiểm nghèo thì tác hại của nó cũng chỉ giới hạn. Cái chết thập giá của Đức Giê-su là một khảng định ngược lại: tội không chỉ dẫn tới cái chết nhưng thực sự là chết. Cũng vậy sự phục sinh của Người khảng định ơn cứu chuộc thực sự hoàn lại sự sống đích thực và toàn diện cho mọi người đã chết trong tội.

 

Cần bằng chứng Kinh Thánh ư? Dựa và câu khảng định của Đức Giê-su: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống (Ga 11, 25) Phao-lô đã có thể xác quyết: “Nếu chỉ vì một người, một người duy nhất sa ngã mà sự chết đã thống trị, thì điều Thiên Chúa làm qua một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô lại còn lớn lao hơn biết mấy… ” (Rm 5,17), “Như mọi người vì liên đới với A-đam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Ki-tô cũng được Thiên Chúa cho sống” (1 Cr 15,22). Như vậy, đối với một Thiên Chúa cứu độ, cho Giê-su Ki-tô sống lại từ cõi chết là điều nhất thiết phải làm, cũng thế nhất thiết không kém Người phải làm cho chúng ta, những kẻ tin, sống lại từ cõi chết. Trên Thập giá, Đức Giê-su đã mặc lấy cái chết tội lỗi của cả trần gian, mà chết thể lý của Người là hình ảnh cụ thể nhất, một đàng để mạc khải cho thấy Thiên Chúa yêu thương cứu độ ‘đến cùng’, đàng khác như một A-đam mới Người cũng trọn vẹn đón nhận tình thương cứu độ của Cha để được sống, “Con phó linh hồn con trong tay Cha”. Phục sinh của Người là bằng chứng hùng hồn về sức mạnh của Tình Yêu Thiên Chúa cứu độ vĩnh viễn chiến thắng sự chết dưới mọi hình thức, lòng nhân ái thần linh chiến thắng tội chết trong mọi chiều kích. Chính Đức Giê-su đã khảng định cách chắc nịch: “Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống”. ‘Sẽ’ đây nói lên một định luật chứ không phải thì tương lai: sống lại ngay bây giờ, chứ không chỉ trong ngày sau hết, sống lại trong ân sủng ngay tức thời chứ không chỉ trong ngày thế tận; cũng vậy ‘chết’ đây là về thể lý, nhưng còn quan trọng hơn nhiều là về mặt thiêng liêng. “Ngay hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng”.

 

Suy nghĩ như thế làm tôi hiểu ra rằng: chỉ nhấn mạnh về một Đức Giê-su Ki-tô phục sinh vinh quang về mặt thể lý rất có thể trở thành một lạc đề nguy hiểm. Vinh quang đích thực của Phục sinh, đồng thời cũng là sức mạnh vô địch của Thập giá chính là tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Lòng thương xót của Người đã vĩnh viễn chiến thắng tội chết nơi con người: tình yêu đã chứng tỏ mạnh hơn cả sự chết, đặc biệt chết trong tội. Cho nên rõ ràng “nếu chúng ta cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, đó là niềm tin của chúng ta” (Rm 6,8) trong tình yêu nhân hậu và tha thứ của Thiên Chúa. Mầu nhiệm thập giá và phục sinh không bao giờ được tách rời. Đó chính là sự Vượt Qua (Pasqua – Passover) của mọi Ki-tô hữu chúng ta, một mầu nhiệm sống động vĩ đại.

 

Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, xin cho con nhận biết tội đã làm con chết thực sự, để con nghiệm ra được sức mạnh vô địch của lòng thương xót Chúa. Kinh nghiệm về cái chết thể lý đã cho con phần nào thấy được lòng nhân từ của Chúa… nhưng đó cũng chỉ là hình ảnh mờ nhạt của một thực tế vĩ đại hơn nhiều: Đấng Cứu Độ không ngừng tiêu diệt sự chết nơi con để hoàn lại sự sống. Xin cho con không ngừng biết đón nhận ơn phục sinh trong suốt cuộc đời, bao lâu con vẫn còn yếu đuối sa ngã trong tội chết. Và chính trong sự kỳ diệu vĩ đại này, xin cho con (cùng với mọi tín hữu) cất cao lời ca ngợi lòng từ bi thương xót của Chúa hàng ngày và cho đến muôn đời. Amen 

 

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

 

 

LINH MỤC SỐNG CHO NGƯỜI NGHÈO

THỨ NĂM TUẦN THÁNH Ga 13,1-15

 

Người ta nói rằng: chim Yến là loài chim không thích cạnh tranh với muôn loài, nên đã chọn nơi thâm sơn cùng cốc, hải đảo xa xôi để xây tổ ấm. Chim yến luôn bay theo hướng mặt trời và không hề đậu lại để nghỉ ngơi. Chim Yến ăn những loài côn trùng sống và đang bay trong không gian. Chim Yến cũng không bao giờ uống nước sông suối ao hồ mà uống hơi sương của sáng sớm và chiều tà. Điều đặc biệt của chim Yến là chúng làm tổ bằng cách tiết nước bọt đặc biệt của mình- đôi khi trộn với cả máu, tạo thành sợi, kết làm tổ để chuẩn bị sẵn sàng cho những Yến con sắp ra đời. Với cách làm tổ bằng chất liệu từ ruột gan rút ra, phải có một tình yêu con mãnh liệt lắm, Yến mới không ngại hy sinh cho con sự sống.

 

Vâng, chim Yến đã rút ruột cho con. Chim Yến dùng mạng sống mình để bảo vệ, che chở và nuôi sống đàn con. Đây quả thực là một mẫu mực cho tình yêu. Một tình yêu không nói bằng lời nhưng diễn tả bằng hành động. Một tình yêu không so đo tính toán, không toan tính thiệt hơn nhưng chỉ biết yêu là yêu cho đến cùng. Đây quả thực là một tình yêu cao quý mà trong muôn loài mới có một loài dám chết cho người mình yêu, vì “không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu dám thí mạng mình vì người mình yêu”. Đây quả thực là một tình yêu cao thượng cho đi mà không lấy lại, trao ban mà không bao giờ mong đền đáp.

 

Hôm nay, thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta lại được chiêm ngắm một tình yêu cao sâu như thế nhưng được thể hiện nơi con người là Đức Giê-su thành Nagiaret. Một tình yêu sáng tạo đến mức độ tận hiến chính thân mình làm của ăn của uống cho người mình yêu. Một tình yêu rút ruột để làm nên bí tích nhiệm màu là Thánh Thể yêu thương. Một tình yêu không nói bằng lời mà bằng chính hành vi trao ban máu thịt mình nên của ăn nuôi dưỡng đàn chiên.

 

Chúa Giê-su khi lập bí tích Thánh Thể, Ngài đã làm cử chỉ thật cảm động khi quỳ gối rửa chân cho các môn đệ. Điều này như muốn nói Thánh Thể là đỉnh cao của tận hiến hy sinh, của phục vụ quên mình. Việc rửa chân là nhịp cầu không thể thiếu để dẫn tới việc cử hành Thánh Thể. Trước khi cử hành Thánh Thể cần phải thể hiện tinh thân phục vụ hy sinh qua hành vi khiêm tốn như một người tôi tớ phục vụ chủ mình. Vì Thánh Thể là tình yêu tự hiến quên mình cũng cần được thể hiện cụ thể rõ nét trong đời sống đời thường khi hết mình phục vụ tha nhân. Cũng vậy, việc sống đạo, giữ đạo không chỉ dừng lại ở nhà thờ quanh bàn tiệc thánh mà còn phải thể hiện qua việc dấn thân xây dựng xã hội công bằng, bác ái, hiệp nhất, yêu thương.

 

Khi ĐHY Jorge Mario Bergoglio được bầu chọn làm giáo hoàng, Ngài đã lấy tên gọi là Phanxicô. Chúng ta biết thánh Phanxicô Assisi của thế kỷ 13 là một con người sống cho người nghèo và dấn thân vì người nghèo. Thánh nhân đã muốn “xây dựng lại Giáo Hội Công Giáo với những viên đã sống động là những người nghèo”. Đức Giáo Hoàng Phanxicô  cũng đã từng sống như vậy và với những gì Ngài đã thể hiện, có lẽ Ngài sẽ tiếp tục dấn thân cho người nghèo trong cương vị chủ chăn hoàn vũ. Ngài cũng đã từng  “sống trong một căn nhà nhỏ, chứ không phải tại nơi cư trú nguy nga của giám mục. Dù là Hồng Y, ngài thường sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, và tự mình nấu ăn cho mình”

 

Hôm nay, cũng là ngày cầu cho các linh mục, chúng ta cầu xin Chúa cho Giáo hội có nhiều linh mục như lòng Chúa mong ước. Cầu xin Chúa cho có nhiều linh mục biết đến để phục vụ chứ không để người khác phục vụ. Cầu xin Chúa cho có nhiều linh mục sống cho người nghèo và vì người nghèo chứ không sống trong nhung lụa mà gạt bỏ người nghèo. Cầu xin Chúa cho có nhiều linh mục biết cử hành việc phục vụ Chúa nơi các đền thờ tâm hồn con người chứ không dừng lại nơi bàn thờ hiến lễ trong nhà thờ. Cầu xin cho có nhiều linh mục biết cúi mình phục vụ chứ không cao ngạo kiêu căng. Chớ gì các linh mục luôn là hiện thân của tình mục tử sẵn sàng hiến thân vì đàn chiên.

 

Nguyện xin Chúa là Đấng đã cúi mình phục vụ xin giúp chúng con biết sống khiêm tốn để phục vụ nhau. Amen

 

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

 

 

TÌNH ĐƠN PHƯƠNG

THỨ SÁU TUẦN THÁNH Ga 18,1-19,42

 

Có một người kể rằng: Ngày xưa, trong nhóm bạn của tôi có một anh bạn yêu thầm một cô trong nhóm. Chúng tôi ủng hộ tinh thần cho anh chàng thổ lộ. Nhưng …cô bạn từ chối.

May sao tình bạn vẫn được duy trì. Nhưng tình yêu đơn phương của anh bạn cũng vậy. Anh nói "không cần em đáp lại, nhưng đừng cấm anh tiếp tục yêu”. Thì không cấm, bởi tình yêu ai mà cấm được. Tình yêu là điều không thể lên kế hoạch. Người ta đâu thể yêu chỉ vì được yêu, và cũng khó mà hết yêu ngay chỉ vì bị từ chối.

 

Nhóm bạn của tôi vẫn thân thiết êm đềm với nhau cho đến khi cô bạn có ý trung nhân. Lúc đó cô mới…phiền lòng, vì cô luôn thấy tồn tại rất gần, quanh quẩn bên cuộc sống của mình một anh chàng trồng cây si trong bóng tối. Mặc dù khi gặp cô anh luôn vui vẻ chân thành "chúc em hạnh phúc” nhưng thỉnh thoảng vẫn thổ lộ tâm sự với người này người nọ. Tất nhiên đến tai cô. Điều đó khiến cô cảm thấy như một phần trái tim mình bị cầm tù ngoài ý muốn.

 

Chúng tôi đột nhiên bị chia làm hai phe. Một phe nói rằng tình yêu phải xuất phát từ hai phía, nếu anh bạn kia thực sự vì cô thì hãy quên cô đi mà tìm người khác. Chứ nếu cứ yêu …đơn phương như vậy hoài thì không phải thủy chung mà là ngoan cố. Một phe bênh anh chàng, bảo rằng "Người ta chỉ yêu thôi thì đâu có lỗi gì. Người ta đã chấp nhận "yêu chay”, không mong nhận lại, không đòi hỏi, không làm phiền. Mắc mớ gì mà cấm.”Có người còn trích dẫn Larmartine "yêu vì mong được yêu lại là con người, yêu chỉ để yêu là thiên thần”và hùng hồn tuyên bố anh bạn tôi thuộc dạng…thiên thần.

Thiên Chúa yêu con người. Xem ra Người cũng không chờ hồi đáp của con người. Ngài yêu và yêu thế thôi, vì bản tính Ngài là tình yêu. Cho dù con người có mải mê chạy theo những ham muốn của ảo ảnh phù vân, Ngài vẫn yêu và chờ đợi. Cho dù con người có bỏ rơi Ngài, lạnh lùng với Ngài, lẩn tránh Ngài, Ngài vẫn kiên nhẫn bày tỏ tình yêu của mình cho con người. Ngài vẫn gửi thông điệp tình yêu đến cho con người, dù biết rằng bị từ chối, dù biết rằng con người chưa thể quay về với Ngài, nhưng Ngài vẫn yêu và yêu  cho đến cùng, vì tình yêu của Ngài là tình yêu của thần linh, yêu mà không chờ nhận lại.

 

Tình yêu của Thiên Chúa còn thể hiện một cách mãnh liệt qua cái chết làm dấu chỉ cho tình yêu. “Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu dám chết cho người mình yêu”. Thế mà, Ngài đã yêu và đi vào cái chết để đền tội thay cho người mình yêu. Ngài muốn dùng cái chết để chuộc lại lỗi lầm cho người mình yêu. Ngài muốn chết để đảm bảo sự sống trường sinh cho người mình yêu. Ngài muốn thông qua cái chết để gửi thông điệp yêu thương đến cùng dành cho con người.

 

Thế nhưng, con người như một người tình nhẹ dạ. Một người tình dễ bị cám dỗ bởi danh lợi thú nên dễ xa rời tình Người. Con người khi say mê những danh lợi thú mà không hiểu hết những cạm  bẫy sự chết đang chờ mình. Con người chỉ biết lao vào của cải phù vân mà quên đi tình yêu nhiệm màu với Đấng tạo dựng nên mình trong tình yêu. Con người vẫn dửng dưng, phụ bạc lại tình Ngài yêu thương.

 

Hôm nay thứ Sáu tuần Thánh, Giáo hội mời gọi các tín hữu hãy lặng thinh trước cái chết vì yêu của Thiên Chúa. Hãy chiêm ngắm, hãy tưởng niệm, về cái chết cao quý mà Thiên Chúa đã dành cho con người. Con người chính là người tình của Thiên Chúa. Chúa yêu con người. Chúa đeo đuổi con người. Chúa đi cho đến cùng của tình yêu là dùng cái chết để mang lại sự sống trường sinh cho con người. Đây quả thực là một tình yêu cao sâu nhiệm màu. Chỉ có tình yêu Thiên Chúa mới hoàn hảo, cao quý như vậy. Chỉ có tình yêu Thiên Chúa mới dám cho đi mà không mong nhận lãnh. Chỉ có tình yêu Thiên Chúa mới vô vị lợi và quảng đại bao dung.

 

Xin cho chúng ta đừng phụ bạc ân tình của Chúa. Xin cho chúng ta biết can đảm rũ bỏ những ảo ảnh phù vân để quay trở về với Chúa. Xin cho chúng ta luôn biết mở rộng lòng đón nhận tình yêu cua sâu của Chúa. Và xin cho tình yêu của Chúa dẫn chúng ta vào cửa sự sống đời đời khi biết nương tựa tình yêu và lòng thương xót của Chúa. Amen

 

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

 

 

 

CON NGƯỜI HƠN LOÀI VẬT

 

Người ta kể rằng: Có một nhà vua kia cảm thấy rất buồn. Nhà Vua mới nghe tin có một thiền sư rất thông thái và có tình hài hước có thể làm nhà vua nguôi cơn buồn. Nhà Vua mới mời thiên sư vào trong hoàng cung. Và nói: Trẫm nghe nói ngươi có thể làm cho ta vui. Vậy hôm nay ta đang buồn, ngươi có thể làm gì đó cho ta vui được không. Thiền sư mới nói: Xin bệ hạ nói một câu nào trước rồi hạ thần mới nói được. Nhà vua bèn nói: Ta nhìn ngươi giống y con heo. Vị Thiền sư liền đáp: Thần nhìn bệ hạ giống y như Phật. Nhà Vua thắc mắc tại sao ta nói ngươi là heo mà ngươi lại cho ta là Phật. Thiền sư đáp: Vì nếu trong tim của mình chứa Phật thì mình sẽ nhìn thấy tha nhân là Phật, còn nếu chứa heo thì sẽ nhìn thấy tha nhân là heo.

Khi con người chỉ mang tâm địa loài vật, ắt hẳn nó cũng cư xử theo bản năng như bao loài vật. Khi con người mang tâm địa loài vật chắc chắn nó cũng nhìn đồng loại với cái nhìn hẹp hòi, thiển cận. Loài người có lý trí để suy nghĩ điều hay lẽ phải, có ý chí để tự chủ bản năng trước cám dỗ, có tự do để chọn lựa, đây là nét đẹp cao quý của con người mà các loài khác không có. Đây là những khả năng làm nên sự cao quý nơi phẩm giá của con người hơn muôn loài muôn vật.

Ky-tô giáo cũng nhắc chúng ta: loài người là hình ảnh Thiên Chúa. Con người là họa ảnh của Thiên Chúa. Con người ngoài sự sống thể xác như loài vật còn có sự sống siêu nhiên là linh hồn trường sinh, bất tử. Con người sinh ra trong cuộc đời này chỉ là bến tạm để chuẩn bị một cuộc sống hoàn hảo và viên mãn hơn. Đó là thiên đàng, là cõi phúc, là nước trời hằng sống. Con người phải biết sống đúng với phẩm giá làm người của mình là sống yêu thương, là ăn ngay ở lành theo lề luật mà Thiên Chúa đã ghi khắc trong tâm khảm con người.

Thế nhưng, nhìn vào cuộc sống hôm nay, xem ra rất nhiều người đã không sống đúng với phẩm giá cao quý của mình. Họ phạm tội. Họ sống mất lương tri. Họ tranh giành và giết hại lẫn nhau thật dễ dàng và thảm khốc. Nếu theo dõi báo chí thì hàng ngày biết bao tin chẳng lành xảy ra, khiến con người ngày càng lo sợ, bất an. Nguyên những ngày đầu năm người ta đã cảm thấy sững sờ trước những tin giật gân như: Chồng dùng búa đập vợ chết vì bị “ép” sống chung với vợ bé, nữ sinh bị hiếp, bị giết sau va chạm giao thông … là những thảm án đau lòng xảy ra trong dịp nghỉ Tết nguyen đán Qúy Tỵ 2013.

Đây chính là một dấu chứng của một xã hội đang đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa đã làm cho xã hội loạn lạc, bạo lực. Một xã hội không Thiên Chúa chính là hỏa ngục tại thế mà con người hiện nguyên hình là quỷ dữ cắn xé đồng loại của mình. Khi con người không nhìn thấy Thiên Chúa nơi tha nhân, thì họ chỉ nhìn đồng loại mình như những con vật để rồi dễ dàng ra tay sát hại lẫn nhau.

Thế nên, trước những tục hóa và bạo lực ngày một gia tăng do con người đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa, và hiểu lệch lạc về phẩm giá của mình. Thiết nghĩ, người ky-tô hữu chúng ta cần đào sâu đức tin để sống đức tin và làm chứng cho tin mừng trong một thế giới đang vắng bóng Thiên Chúa hôm nay.

Hôm nay lễ Chúa Phục sinh là lời nhắc nhở chúng ta có sự sống đời sau. Có một sự sống thần linh vượt lên sự sống vật chất tạm bợ trần gian. Cuộc sống đó hoàn hảo hơn sự sống trần gian này. Chúa Giê-su đã đi qua kiếp người này bằng cái chết thập tự giá. Người ta tưởng rằng thế là hết. Công sức, sự nghiệp của Ngài cũng tiêu tan. Thế nhưng, Chúa đã sống lại. Chúa nói, Chúa về cùng Cha. Chúa nói, Chúa được chia sẻ vương quyền với Cha sau cuộc đời làm đẹp lòng Chúa Cha. Nhìn vào sự kiện Chúa Phục sinh cũng giúp chúng ta biết sống có trách nhiệm hơn với cuộc sống hôm nay. Đời sau là hệ quả của kiếp sống này. Đời sau con người được ân thưởng hay bị phạt trầm luân cũng tùy thuộc vào cuộc sống hôm nay.

Thiên Chúa ban cho con người có lý trí để biết làm điều lành tránh điều dữ. Ngài cũng cho con người có ý chí để vượt thắng cám dỗ và có tự do để chọn lựa. Hạnh phúc đời sau tùy thuộc vào những chọn lựa cách sống hôm nay. Vâng nghe lời Chúa hay bất tuân? Sống theo đạo lý hay vô đạo lý? Tất cả sẽ nhận lại ở đời sau khi mà Chúa sẽ trả lại sự công bằng cho con người. Hạnh phúc hay bất hạnh đời đời? Tất cả tùy thuộc vào cuộc sống hiện tại hôm nay.

 

  Xin cho chúng ta dám sống điều mình tin thể hiện qua việc tuân theo Lời Chúa, biết sống theo giáo huấn của Chúa, biết thực thi công bình và bác ái. Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết tin tưởng vào Chúa phục sinh để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống này trong niềm trung kiên theo Chúa. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

 

 

 

 

 

“GIẢI NGHĨA YÊU”

THỨ NĂM TUẦN THÁNH Ga 13,1-15

 

Để nghe tơ liễu run trong gió

và để xem Trời giải nghĩa yêu”(Hàn Mặc Tử)

Người ta đề cập rất nhiều về tình yêu, nhưng có lẽ không mấy ai hiểu cho đúng tình yêu là gì.

Ngay cả thi sĩ Xuân Diệu, người được xem là thi sĩ của tình yêu, có những cảm nhận rất tinh tế về tình yêu và tâm lý con người, nhưng cũng thú nhận là không thể giải nghĩa được tình yêu. Ông viết:

"Làm sao giải nghĩa được tình yêu

Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

bằng mây nhè nhẹ  gió hiu hiu."

 

Và khi con người không lý giải được tình yêu thì có lẽ phải viện tới Trời. Vì thế, Hàn Mặc Tử, một nhà thơ tài hoa công giáo, khuyên chúng ta - qua bài "Đà Lạt trăng mờ" - như sau:

"Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,

để nghe dưới đáy, nước hồ reo

để nghe tơ liễu run trong gió

và để xem Trời giải nghĩa yêu."

"Và để xem Trời giải nghĩa yêu!"  Đúng vậy, Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình Yêu là phẩm chất của Thiên Chúa nên chỉ có Thiên Chúa mới biết thế nào là yêu và chỉ có Ngài mới có đủ thẩm quyền để "giải nghĩa yêu".

Chúa Giê-su "giải nghĩa yêu" khi bày tỏ cho ông Ni-cô-đê-mô biết: "Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất nhưng được sống đời đời" (Ga 3,16).

Chúa Giê-su cũng đã "giải nghĩa yêu" khi Nguời nói: "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình." (Ga 15, 13)

Thế là ý nghĩa của tình yêu giờ đây đã được sáng tỏ: yêu thương là trao ban, là hy sinh, là cống hiến, là cho đi...

Thiên Chúa Cha yêu thương thế gian nên đã trao ban Người Con Một cho thế gian; Chúa Giê-su đã yêu thương thế gian nên Ngài đã hy sinh tính mạng cho thế gian.

Nhưng Chúa Giê-su không chỉ giải nghĩa yêu bằng những  lời hoa mĩ. Người thể hiện lòng yêu thương qua cuộc sống. Tin Mừng hôm nay cho biết rằng: "Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.. Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau." (Ga 13, 1.4-5).

Thế mới hiểu rằng:

- Yêu là hạ mình làm tôi tớ người khác, là "đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau."

- Yêu là bẻ thân mình làm bánh trao ban cho bạn: "Nầy là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con."

- Yêu là rót máu mình như rượu hiến ban cho người khác được sống còn: "Nầy là Máu Thầy sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội."

- Yêu là nộp mình chết thay cho người mình yêu thương được sống: "Thà một người chết thay cho dân còn hơn là để toàn dân phải bị tiêu diệt" (Ga 11, 50).

Lạy Chúa Giê-su,

Thế ra lâu nay chúng con đã ngộ nhận rất nhiều về tình yêu.

Chúng con tưởng rằng yêu là say mê, là khai thác, là chiếm đoạt đối tượng mình yêu mến. Hôm nay, nhờ bài học yêu thương Chúa dạy, chúng con mới hiểu rằng tình yêu đúng nghĩa là hy sinh, là quên mình để phục vụ, là cống hiến không ngừng cho tha nhân được hạnh phúc; và câu tỏ tình hay nhất, chân thật nhất, ý nghĩa nhất trên cõi đời nầy là câu tỏ tình của Chúa trong bữa tiệc ly: "Nầy là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con... Nầy là chén Máu Thầy sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội."

Và hôm nay, khi mời gọi "các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy", Chúa tha thiết kêu mời chúng con hãy yêu nhau theo cách yêu của Chúa; Chúa muốn chúng con nói lời yêu thương theo cách thức Chúa đã tỏ bày, nghĩa là:

Nầy là thời giờ của tôi, sức lực tôi, tim óc tôi, xin hy sinh vì bạn. Nầy là thân xác tôi, trọn cuộc sống tôi, xin cống hiến cho cha mẹ, cho người bạn đời, cho con cái và cho tha nhân."

 

Lm Inhaxiô Trần Ngà

 

 

THÁP NHẬP VÀO THÂN MÌNH CHÚA GIÊSU

(VỌNG PHỤC SINH)

           Vào tháng 9 năm 1998, Giáo sư Jean Michel, một bác sĩ phẫu thuật người Pháp, đã lấy cánh tay của một người Pháp mới chết vì bể sọ trong một tai nạn xe mô-tô để ghép vào phần tay cụt của ông Hallam, một người Úc bị cụt tay vì tai nạn giao thông 14 năm về trước. Cuộc giải phẫu kéo dài ba tiếng rưỡi đồng hồ tại bệnh viện Edouard Herriot.

Ông Hallam vui mừng cho các phóng viên báo chí biết: “Hiện nay ông có thể sử dụng cánh tay mới ghép để cầm bút viết tên của mình, để rửa mặt, thắt cà vạt, cài nút áo và dắt con đi chơi.”

Đây là vụ ghép cánh tay đầu tiên trên thế giới và đến tháng 10 năm 1999, giáo sư Jean Michel Dubernard còn ghép tay cho thêm năm người khác nữa tại bệnh viện Edouard Herriot ở thành phố Lyon bên Pháp. (Trích phụ san KHPT số 495)

Cánh tay của một người Pháp 41 tuổi trở thành cánh tay của ông Hallam. Từ đây, máu của ông Hallam chảy vào cánh tay của người Pháp, sức sống của ông Hallam chuyển thông vào cánh tay được tháp nối và làm cho cánh tay nầy chuyển động và làm được nhiều công việc.

Một cánh tay của người đã chết, tưởng đã tan nát thối rữa đi trong mồ, may thay nhờ được ghép nối với thân thể ông Hallam mà được sống lại. Thật là điều rất đáng mừng.

Đức Giê-su sống lại cũng đem lại cho chúng ta, là những người đã chết vì tội lỗi, một sự sống mới tương tự như thế.

Chúng ta tựa như cánh tay của người chết vì tai nạn trong câu chuyện trên đây, may thay, Đức Giê-su phục sinh đã đã dùng Bí Tích Thánh Tẩy để tháp nhập chúng ta vào thân thể Người, để chúng ta được nên một với Người, như bàn tay tháp vào thân thể, như cành nho tháp vào thân nho, nhờ đó Người chuyển thông sức sống thần linh của Người cho chúng ta.

Giáo lý Hội Thánh ghi rõ điều nầy: “Bí Tích Thánh Tẩy làm cho ta trở thành chi thể trong Thân Thể Chúa Giê-su” (GLHTCG số 1267)

Thế là từ đây, máu của Chúa Giê-su lưu chảy trong huyết mạch chúng ta; giờ đây sự sống của Chúa đang được thông truyền cho chúng ta. Đây là ơn huệ vô cùng lớn lao và quý báu do Đức Giê-su phục sinh mang lại cho chúng ta.

Vì thế, chúng ta hãy vui mừng hân hoan!

Chúng ta vui mừng hân hoan vì tuy chỉ là loại thụ tạo hèn kém, là những người tội lỗi đáng chết, thế mà Thiên Chúa đã thương đến thân phận khốn hèn của chúng ta, Người đã nâng chúng ta lên, cho chúng ta được kết hợp với Người, được trở nên chi thể, nên thân mình của Chúa Giê-su.

Chúng ta vui mừng hân hoan vì một khi được tháp nhập vào Thân Mình Chúa Giê-su, mạch sống của Chúa Giê-su sẽ được chuyển thông cho chúng ta như nhựa sống của thân nho chuyển thông cho cành nho, như máu từ tim chuyển về cho từng chi thể. Thế là chúng ta đang mang sự sống của Thiên Chúa trong con người chúng ta và nhờ đó chúng ta sẽ được sống đời đời.

Nhưng muốn có được ơn huệ quý báu nầy, chúng ta phải gắn bó bền chặt với Chúa Giê-su như cành liền cây. Khi phạm tội trọng, chúng ta tự cắt lìa mình ra khỏi Chúa, chúng ta không còn là chi thể của Chúa nữa do đó sự sống của Thiên Chúa  không thể chuyển thông cho chúng ta được. Thật là một tổn thất rất lớn lao.

Lạy Chúa Giê-su,

Nguyện xin Chúa giúp chúng con thường xuyên gắn bó với Ngài bằng đời sống yêu thương phục vụ và đừng bao giờ tự tách lìa khỏi Chúa bằng những tội lỗi của mình.

 

Lm Inhaxiô Trần Ngà

 

 

TƯỞNG NIỆM

THỨ NĂM TUẦN THÁNH Ga 13,1-15

 (Xh 12, 1-8.11-14; 1 Cor 11, 23-26; Ga 13, 1-15).

Vì nạn đói, con cháu của tổ phụ Abraham, Isaac và Giacob đã di dân vào Ai-cập khoảng năm 1700 B.C. và cư ngụ tại đó gần 430 năm. Con dân sinh xôi nây nở thêm đông. Thời gian dân Do-thái xuất Ai-cập khoảng năm 1300-1280 B.C., dưới thời vua Ramses II. Đây là một biến cố hết sức quan trọng trong lịch sử ơn cứu độ. Thiên Chúa đã chọn Môisen để cứu dân ra khỏi vòng nô lệ. Sự kiện vượt qua được chuẩn bị thật chi tiết và ý nghĩa: Các ngươi phải ăn thế này: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Các ngươi phải ăn vội vã: đó là lễ Vượt Qua mừng Thiên Chúa (Xh 12, 11). Dân chúng bắt đầu cuộc lữ hành 40 năm trong sa mạc để chịu sự huấn luyện và thử thách. Hằng năm Giáo Hội nhắc nhở chúng ta về biến cố này và dùng thời gian 40 ngày chay thánh để chuẩn bị bước vào Tam Nhật Thánh.

Trong ngày xuất Ai-cập, mọi người và mọi gia đình phải tuân hành tất cả các lời chỉ dạy của ông Môisen để tránh mọi hiểm họa. Thiên Chúa đã sai các thiên thần giáng họa trên người Ai-cập. Thiên thần sẽ vượt qua tất cả các nhà đã được ghi dấu máu trên cửa. Thiên Chúa đã cứu họ khỏi sự áp bức của người Ai-cập: Còn vết máu trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu, Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng hoạ trên đất Ai-cập (Xh 12, 13). Thiên Chúa đã ưu ái đùm bọc và bảo vệ dân riêng của Người. Nói lên tình yêu thương vô bờ của một Thiên Chúa nhân từ và công bằng vô cùng. Chúa cho mưa trên cả người lành kẻ dữ nhưng Thiên Chúa lại đặc biệt bảo vệ và cưu mang dân Do-thái. Từng bước Thiên Chúa mạc khải cho dân chúng biết về một Thiên Chúa độc nhất vô hình, nhưng có ngôi vị biết yêu thương và thưởng phạt công minh.

Lễ Vượt Qua đã trở thành ngày lễ tưởng niệm biến cố mà Thiên Chúa đã ra tay oai hùng cứu dân. Lễ này được truyền tụng từ đời này sang đời khác qua các thế hệ: Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Thiên Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này: đó là luật quy định cho đến muôn đời (Xh 12, 14). Xưa,mỗi năm Chúa Giêsu cùng với cha mẹ về Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua. Tới ngày nay, các tín hữu Đạo Do-thái vẫn tiếp tục giữ các tập tục cha ông một cách rất nghiêm nhặt. Vào dịp lễ Vượt Qua hằng năm, họ cử hành đọc Lời Chúa, ca hát Thánh Vịnh và chia sẻ bữa ăn tưởng niệm với bánh không men, thịt chiên nướng và rau đắng. Thiên Chúa với bàn tay uy dũng giúp dân riêng chiến thắng người Ai-cập. Chiến mã với kỵ binh, Ngài quăng chìm đáy biển. Một cuộc chiến, một biến cố và một lễ vượt qua là hình bóng chiến đấu giữa sự chết và sự sống. Dẫn đến cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế, đã chết đi để dẫn mọi người vào sự sống mới.

 

Vào dịp lễ Vượt Qua của người Do-thái, Chúa Giêsu đã cùng với các môn đệ cử hành các nghi thức ngày lễ tưởng niệm. Ngày này Chúa Giêsu đã loan báo rằng Ngài sẽ không bao giờ tham dự lễ Vượt Qua cho tới khi lễ này được thực hiện trong Nước Chúa. Như thế trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã tiên báo về một lễ Vượt Qua mới. Chúa đã dùng bánh để hóa nên Thân Mình Chúa: Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy."(1 Cor 11, 24). Chúa Giêsu dùng từ, đây là Mình Thầy, mang một ý nghĩa thần học trọn vẹn. Chúa sẽ hiện diện thực sự trong tấm bánh nhỏ để nuôi hồn thiêng. Dâng lời tạ ơn, bánh được bẻ ra, bánh hiến tế, bánh làm của ăn và bánh là Mình Thầy. Chúa nuôi dưỡng chúng ta bằng chính Thịt Máu của Chúa.

Không chỉ Mình Chúa nhưng còn chén Máu Thầy. Máu của giao ước, máu của hy sinh đền tội và máu để nuôi sống. Chúa dùng chính thịt máu Chúa để nuôi dưỡng chúng ta: Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: "Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy."(1 Cor 11, 25). Chúa căn dặn các tông đồ là hãy làm việc này để tưởng nhớ đến Thầy. Nghi thức bẻ bánh sớm được các tông đồ ghi nhớ và thực hiện. Sau khi sống lại từ cõi chết, khi Chúa hiện ra với hai môn đệ đi về làng Emmaus, Chúa đã cầm bánh tạ ơn và bẻ ra phân phát cho các ông. Các ông đã nhận ra Chúa qua nghi thức bẻ bánh này. Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, các cộng đoàn tín hữu đã tụ họp thực hành nghi thức bẻ bánh và hát ca Thánh Vịnh.

Các Kitô hữu tiên khởi không còn cử hành Lễ Vượt Qua ở đền thờ Giêrusalem như trước, nhưng họ tưởng niệm lễ Vượt Qua mới. Lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu đã vượt qua sự chết tới sự sống vĩnh cửu: Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết (1Cor 11, 26). Khi cử hành Bí tích Thánh Thể là chúng ta loan truyền sự chết và sống lại của Chúa Kitô cho đến khi Chúa lại đến. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã lập Bí tích Thánh Thể và trao quyền cho các tông đồ tiếp tục cử hành để tưởng nhớ đến sự chết và sống lại của Chúa. Với thời gian, Giáo Hội đã trải qua nhiều giai đọan hình thành việc cử hành thánh lễ này. Như xưa, ông Môisen đã chọn riêng dòng dõi Aaron được thánh hiến để phục vụ bàn thờ. Chức vụ linh mục tư tế được thành lập để đại diện đoàn dân dâng tiến thánh lễ lên Thiên Chúa.

Trong thơ gởi cho tín hữu thành Galata, thánh Phaolô tông đồ được chính Chúa Kitô phục sinh chọn và gọi thi hành sứ mệnh. Ngài đã nhận lãnh tin mừng trực tiếp từ Chúa Kitô. Phaolô đã chỉ dậy tín hữu về căn cơ thần tính của Chúa Giêsu: Anh em gọi Thầy là "Thầy", là "Chúa", điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa (Ga 13, 14). Không phải người đời phong danh ban tước cho Chúa, mà Chúa mạc khải về chính mình. Chúa Kitô đã phá tan gông kiềng sự chết và tội lỗi. Sự chết không còn làm chủ được Ngài nữa. Ngài vượt lên trên tất cả mọi phẩm trật và danh Ngài là Thánh. Chúng ta tuyên xưng Chúa là Chúa và là Đấng Cứu Độ trần gian. Khi nghe Danh của Chúa, mọi đầu gối sẽ bái qùy thờ lạy.

 

Trước khi cử hành bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã để lại một bài học rất mực khiêm tốn. Chúa khuyên dạy các tông đồ hãy yêu thương phục vụ lẫn nhau và bằng hành động cụ thể, Chúa đã qùy gối xuống rửa chân cho các môn đệ: Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau (Ga 13, 15). Các tông đồbối rối như một bước hẫng. Vì theo tập tục của người Do-thái, khi khách đến nhà, chỉ có các đầy tớ mới rửa chân cho khách. Nếu nhà không có đầy tớ, thì trẻ em hay người vợ trong gia đình sẽ rửa chân cho khách. Ở đây, chính Chúa là Thầy và là Chúa lại cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Chúa đã rửa những bàn chân dơ dáy dính đày bụi trần và hôi hám. Một cử chỉ có một không hai, ngoài sự tưởng tượng của mọi người. Chúa đã yêu thương và tôn trọng các tông đồ toàn diện, cả thể xác lẫn tinh thần. Chúa rửa sạch thân xác qua việc rửa chân và Chúa nuôi dưỡng hồn bằng của ăn là Mình và Máu Thánh Chúa.

 

Lạy Chúa, Chúa trao ban tất cả. Chúa chọn con đường từ thấp đi lên để cứu độ chúng con. Chúa muốn ôm ấp mọi người và không loại trừ một ai. Chúa hiện diện giữa chúng con nơi những kẻ nghèo đói, bệnh hoạn và khổ sở lầm than. Chúa không chỉ nói xuông, nhưng bằng trái tim yêu thương và hành động phục vụ đích thực. Xin cho chúng con biết xả thân phục vụ và yêu thương anh chị em như Chúa đã yêu thương và hiến thân mình vì chúng con.

 

Lm Giuse Trần Việt Hùng

Bronx, New York

 

THƯƠNG KHÓ

THỨ SÁU TUẦN THÁNH Ga 18,1-19,42

 (Is 52, 13-53,12; Dt 4, 14-16. 5, 7-9; Ga 18, 1-19.42).

 

Thứ Sáu Tuần Thánh, Good Friday, ngày tưởng niệm sự đau khổ và sự chết của Chúa Giêsu Kitô trên thập giá. Hôm nay Giáo Hội dành một ngày đặc biệt để suy niệm về sự thương khó của Chúa: Nhà thờ không trưng hoa, đèn nến, không trải khăn bàn thờ và nhà tạm mở cửa để trống. Các tín hữu ăn chay và kiêng thịt hy sinh phần xác. Cộng đoàn tín hữu có giờ Kinh sáng và giờ thích hợp sẽ cử hành Phụng Vụ Lời Chúa với Bài Thương Khó, Lời Nguyện Giáo dân trọng thể, Suy tôn và hôn kính thánh giá và phần Rước Lễ hiệp thông. Cao điểm của các việc cử hành phụng vụ nhắc nhở chúng ta về tình yêu dâng hiến của Chúa Giêsu. Không có tình yêu nào cao quí hơn mối tình của người hiến thân mình vì bạn hữu. Chúa Kitô đã chấp nhận tất cả khổ đau chỉ vì muốn cứu độ chúng ta.

 

Tiên tri Isaia đã diễn tả hình ảnh đau thương của Người Tôi Trung bị người đời hành khổ: Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa (Is 52, 14). Người tôi trung bị đánh đập phỉ nhổ, máu me chảy tràn lan trên mặt đến nỗi người ta không còn nhận diện ra khuôn mặt dáng vẻ. Đây là hình ảnh của Đấng Cứu Thế trong khi bị tra trấn, đòn đánh, mạo gai thấu vào đầu, roi vọt quất trên lưng trần, máu từ đầu chảy xuống mặt và thánh giá nặng đè vác trên vai. Ngài mang mọi thương tích để xoa dịu những đau thương của chúng ta: Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành (Is 53, 5). Khi bị trói buộc, đòn đánh và phỉ nhổ, Chúa đành chịu, không một lời ta thán mắng mỏ, nhưng âm thầm lê bước vác thập giá tới núi sọ để hiến dâng của lễ toàn thiêu tinh tuyền.

 

Sống ở đời, có nhiều điều làm cho chúng ta âu lo, phiền muộn, sầu não và sợ hãi. Lo lắng vì gặp sự nghèo khổ, đói khát, không có nơi trú ngụ và lưu lạc nơi xứ lạ quê người. Sợ người ta hiểu lầm, chống đối, tẩy chay, xua đuổi và chụp mũ. Thân xác sợ bị phỉ nhổ, xô đẩy, roi vọt đánh đòn, trói buộc và mọi sự hành khổ. Ai cũng có chút kinh nghiệm về sự khổ đau này. Người tôi trung của Chúa lãnh chịu mọi thứ hình khổ và sau cùng đã bị loại trừ bằng cái chết: Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu. Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới? Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt (Is 53, 8). Tôi trung chấp nhận chịu nhịn nhục và xỉ vả. Người ta cũng thường nói rằng một sự nhịn là chín sự lành. Sự nhẫn nhục chịu khổ đau đã sinh ra hoa trái là sự khiêm hạ và thắng vượt.

 

Lửa thử vàng, gian nan thử đức. Sự thống khổ sẽ giúp chúng ta tôi luyện tâm hồn nên tinh tuyền. Tôi trung công chính đã mở đường dẫn lối nhiều người tìm thấy nguồn an vui đích thực của chân lý: Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ (Is 53, 11). Muốn đội triều thiên vinh quang, chúng ta phải miệt mài tu luyện và liên lỉ phấn đấu với mọi trạng huống cuộc đời. Không thể ngôi chơi, xơi bát vàng. Muốn thành công mãn nguyện, cần phải trả giá. Giá càng cao, ân phúc càng tràn đầy. Người tôi trung đã đi qua con đường đau khổ để đạt vinh quang. Người tôi tớ không nhận vòng hoa chiến thắng bằng giải hoa tươi mau tàn chóng héo, nhưng là vòng hoa của sự công chính viên mãn.

 

Tiên tri Isaia đã tiên báo về số phận của Đấng Thiên sai. Chúa Giêsu, Đấng được xức dầu, đã hoàn tất mọi lời của các tiên tri đã loan báo về Ngài. Thiên Chúa đã sai các tiên tri loan tin như: Amos, Hosea, Micah, Isaiah, Zepaniah, Nahun, Habakkuk, Jeremiah, Ezekiel, Zechariah, Joel, Malachi và Jonah. Các tiên tri luôn đồng hành với dân để soi đường mở lối và dẫn dắt họ trong đường ngay nẻo chính. Những lời tiên tri mang lại niềm vui và hy vọng sự giải thoát khỏi vòng nô lệ tội lỗi và áp bức của ma quỉ và thế gian. Hình ảnh người tôi trung đã thể hiện rõ nét nơi Chúa Giêsu Kitô. Nhóm lãnh đạo tôn giáo và dân chúng đã bị xúi dục để lên án kết tội chết cho Chúa: Khi vừa thấy Đức Giêsu, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: "Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá! " Ông Philatô bảo họ: "Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy."(Ga 19, 6). Tuy không tìm thấy lý do nhưng cứ kết tội. Đây cũng là sự nhu nhược và mị dân của ông Philatô.

 

Với sức ép từ mọi phía và lòng người ra chai cứng, người ta đã đóng đinh người vô tội: Tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa (Ga 19, 18). Khi lòng con người đã chìm ngập trong oán thù thì sự dữ tăng lên gấp bội. Người ta đã liệt kê Chúa Giêsu đồng hàng với những kẻ trộm cượp giết người. Để thỏa dạ, các thượng tế, luật sĩ, biệt phái và những người tiểu tâm đã thay lòng đổi dạ mắng nhiếc xỉ vả hết lời. Chúa cam chịu tất cả hình khổ như lễ dâng tinh tuyền lên Thiên Chúa Cha để đền tội cho muôn dân. Nhắp xong miếng giấm chua, Đức Giê-su nói: "Thế là đã hoàn tất! " Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí (Ga 19, 30). Chúa Giêsu đã bị hành khổ cho đến chết. Chết vì kiệt sức. Chết vì đau đớn. Chết vì lưỡi đòng đâm thấu trái tim. Chúa Kitô đã hiến thân trọn vẹn. Một lễ toàn thiêu tinh tuyền dâng hiến một lần là đủ. Chúa Giêsu đã hoàn tất sứ mệnh cứu chuộc loài người.

Thật ra, thái độ của chúng ta cũng không khác gì với cách hành xử của các thượng tế và dân Do-thái xưa là bao. Kinh nghiệm sống đạo cho thấy rằng chúng ta cũng dễ bị lôi cuốn vào những thị phi vô thường ở đời. Đôi khi chỉ cần một lời phát biểu hay một câu văn bị cắt xén, vì không hợp với quan điểm của một vài độc giả, thế là bị chụp mũ, kết án và không tiếc lời mạt sát danh dự của tác giả. Chúng ta dễ bị cám dỗ chiều theo dư luận xấu để chống đối, vào hùa, trở mặt, dèm pha, chối từ và tẩy chay một cách vô ơn. Chỉ cần một sự bất đồng ý kiến, sự hiểu lầm hoặc không thỏa mãn yêu cầu riêng tư, thì thái độ của chúng ta đã xoay quanh 180 độ. Nhiều lần chúng ta đã kết án người vô tội. Giờ này, chúng ta không ngồi đây để trách cứ hay xét đoán người khác mà hãy suy gẫm về hành trình sống đạo và niềm tin của mình vào Chúa Kitô. Bao lần chúng ta ngoảnh mặt làm ngơ với điều thiện, với lẽ đạo và với chân lý. Chúng ta xem thường việc thực hành các vấn đề luân lý và đạo đức. Chúng ta đàn áp và nhạo cười các chứng nhân sự thật. Vào hùa với quần chúng và con người xã hội để phê bình chỉ trích các huấn quyền và lời chỉ dậy của Giáo Hội.

 

Tác giả thơ gởi tín hữu Do-thái đã tuyên xưng: Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội (Dt 4, 15). Xuyên suốt qua lời tiên báo của tiên tri Isaia, tin mừng của thánh Gioan và tác giả thơ Do-thái đã diễn tả hình ảnh đau thương thực sự của Chúa Kitô. Ngài đã chịu thử thách tư bề, nhưng không hề phạm tội. Ngài là Chúa Chiên lành và là con chiên tinh tuyền không tì vết. Mỗi khi linh mục chủ tế đọc lời chúc tụng trước khi rước lễ: Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa. Chúng ta tuyên xưng niềm tin và đón nhận Ngài.

 

Lạy Chúa, Chúa đã chọn con đường thánh giá để cứu độ chúng con. Xin cho chúng con biết vâng phục vác thánh giá mỗi ngày mà đi theo Chúa. Qua thánh giá khổ đau mới có triều thiên vinh quang của sự sống lại. Chúa mời gọi chúng con bước theo Chúa, vì: Dầu là Con Thiên Chúa, Chúa đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục (Dt 5, 8). Xin chochúng con biết vâng ý Chúa Cha dưới đất cũng như trên trời để chúng con sẽ tìm được lẽ sống bình an và nguồn an vui đích thực.

Lm Giuse Trần Việt Hùng

Bronx, New York

 

 

 

NGÀY THÁNH

(THỨ BẢY TUẦN THÁNH)

 

Các nghi lễ của chiều Thứ Sáu Tuần Thánh khép lại. Mọi người ra về trong thinh lặng. Giữ lòng chay tịnh và kiêng thịt để tiếp tục tưởng niệm sự đau khổ và sự chết của Chúa Giêsu Kitô. Sự vắng lặng bao trùm khuôn viên thánh đường thật linh thiêng. Nhà thờ trống vắng như mồ đá. Không có nhang đèn, hoa lá hay khăn phủ. Với khí hậu lành lạnh vắng tanh tạo nên bầu khí thanh lặng và sầu não. Mọi người đã chứng kiến tận mắt mọi hình khổ của Chúa Giêsu. Thân xác nào chịu cho nổi những lằn roi quất vào người, nhịn đói vác thánh giá lên núi sọ, bị qụy ngã và yếu sức. Người ta đã lột áo, xô ngửa trên thập giá và đóng đinh chân tay vào thánh giá. Quân lính dựng thánh giá lên và có một tên đã lấy đòng đâm cạnh nương long của Chúa. Thế là máu cùng nước chảy ra. Chúa gục đầu trút hơi thở. Con Thiên Chúa đã hiến mình chịu chết. Ngài đã chết thật và đã được mai táng trong mồ đá. Ngày ấy, tâm tư của Đức Maria, các Tông đồ và những người bà con lối xóm thân cận có lẽ buồn nhiều. Họ đều trở về nhà vì hôm sau là ngày Sabát.

Các thân hữu trong gia đình đã hạ xác, tắm rửa, xức dầu thơm và mai táng Chúa trong mồ. Ai trong chúng ta cũng từng có những kinh nghiệm khi phải xa cách và vĩnh biệt người thân. Chết là bước sang một thế giới khác mà không ai có kinh nghiệm. Mọi thành viên trong gia đình thân tộc cùng gắn bó và chia xẻ nỗi đau. Mẹ Maria đã xa cách người con duy nhất. Mẹ ẵm xác lạnh của con. Mẹ nuốt vào tâm dòng nước mắt đau thương. Mẹ không phiền trách, không to tiếng nhưng âm thầm lãnh nhận như một hiến lễ dâng lên Thiên Chúa Cha. Có lẽ hôm nay là ngày vắng lặng nhất trong đời sống của mẹ Maria. Sự vắng lặng linh thiêng trong niềm mong chờ hy vọng. Mẹ đã luôn sống trong niềm tin yêu và phó thác. Riêng các tông đồ thì mỗi người một hoàn cảnh. Có vị thì buồn rầu chán nản chuẩn bị bỏ về quê. Có vị thì bồn chồn lo sợ và đau buồn. Có vị rơi vào bước hẫng lặng thinh. Dù trong tâm trạng nào, các tông đồ vẫn vây quanh Đức Maria để an ủi và được sự ủi an. Mẹ Maria như cột trụ dẫn đàng cho các tông đồ trong thời điểm thương đau nhất.

 

Dân chúng ai về nhà nấy. Phần đông dân chúng thờ ơ như những khách bàng quan. Có lẽ nhiều người trong họ cũng đã từng chứng kiến những cảnh tử hình đóng đinh trên cây như thế. Họ không quan tâm phân biệt đúng sai hay phải trái, nhưng cứ hùa theo dư luận của đám đông để lên án và kết án. Trách nhiệm trao lại cho nhà cầm quyền và các vị lãnh đạo tôn giáo. Không biết có được mấy người cảm thông, chia sẻ và nhận ra sự thật của cuộc hành quyết trên đồi Calvê. Phúc âm ghi lại sau khi Chúa Giêsu trút hơi thở thì một viên sĩ quan ca tụng: Ông này qủa thật là người công chính (Lc 23, 47). Thế rồi mọi người từ các quan chức chính quyền, các tử tế, luật sĩ và biệt phái cùng đoàn dân trở về nhà. Họ nghĩ thế là mọi truyện đã hoàn tất. Các nhà lãnh đạo đã yên tâm diệt trừ được một người luôn làm cho họ cảm thấy chướng tai gai mắt. Có lẽ các nhà lãnh đạo rất hả hê khi đã giết Chúa.

 

Ngày Sabát, mọi người tiếp tục nghỉ ngơi và dành thời giờ cầu kinh, hát Thánh Vịnh và dâng tiến lễ vật mừng lễ Vượt Qua. Đền thờ vẫn nhộn nhịp, kẻ ra người vào và kẻ buôn người bán. Các khách thập phương đua chen về đền thờ dự lễ để chu toàn bổn phận của người tín đồ. Trong dịp Lễ Vượt Qua này, Chúa Giêsu đã chịu chết và an táng trong mồ đá lạnh. Cửa mồ khép kín bằng tảng đá. Chúa của vũ trụ đang an nghỉ. Giao Ước cũ đã kết thúc. Chương trình lịch sử cứu độ đã tới thời viên mãn. Chúa Giêsu đã hoàn tất mọi lời các tiên tri đã loan báo về Ngài. Ngài đã kinh qua mọi khổ đau của người Tôi Trung được diễn tả trong sách tiên tri Isaia. Giao Ước mới đã được ký kết bằng chính máu của Con Chúa để cho nhiều người được ơn tha tội. Một kỷ nguyên mới đang hé mở. Ngày Sabát đạo cũ sắp qua và ngày thứ nhất trong tuần ló dạng, Chúa Giêsu đã vượt qua sự chết để bước vào sự sống mới.

 

Quyền lực thế gian tìm chiến thắng người công chính bằng cách tiêu diệt và hạ bệ. Nhiều tổ chức chính trị xã hội nghĩ rằng họ có thể dùng bạo lực để che lấp và chôn vùi sự công chính. Trong thế giới hôm nay cũng còn lập lại cách hành xử bạo loạn bất công như xưa. Lấy quyền lực và vũ khí áp chế dân lành. Dùng thủ đoạn để tiêu diệt những người dám lên tiếng cho công lý. Lạm dụng tự do ngôn luận để bề hội đồng những cá nhân hay tổ chức không cùng quan điểm hay đi trái lề. Có nhiều bạo quyền tiếp tay đàn áp và tước đọat những quyền lợi căn bản của con người. Có những chủ trương tha hóa và vong thân dẫn dắt con dân đi vào ngõ cụt. Những người thấp cổ bé miệng chịu thiệt thòi trong mọi lãnh vực. Cuộc sống đạo đức xã hội bị xói mòn bởi những chủ trương luân lý tương đối (relativism) và dễ dãi thả trôi theo dòng. Đối với nhiều người, các lý tưởng cao đẹp của cuộc sống chỉ còn để ngưỡng mộ, chứ không phải để sống.

 

Niềm hy vọng cuộc sống tươi đẹp hình như dần bị thu hẹp. Khi con người không còn muốn gieo những hạt giống tốt, thì mong chi có hoa quả an vui hạnh phúc. Nguyên lý nhân qủa vẫn có đó: Gieo gió thì gặt bão. Nhân nào qủa đó. Ác giả ác báo. Đôi khi chúng ta cảm thấy cuộc đời có qúa nhiều khổ ải và khốn khó. Phần lớn những khốn khổ cuộc đời là do chính chúng ta tạo nên.  Chúng ta  nên tìm cách hóa giải những uẩn khúc cuộc đời để mong sao có được sự an bình đích thực. Hãy gieo hạt giống tốt vào tâm địa mình. Tâm địa chính là mảnh đất của tâm hồn. Cùng gieo hạt giống của sự yêu thương, tha thứ, quảng đại, khiêm nhu, từ ái và chân tình. Vì khi gieo hạt giống nào, chúng ta sẽ được gặt hoa qủa đó.

 

Chúa Giêsu đã tung gieo hạt giống tin mừng khắp nơi. Nhiều hạt giống đã rơi vào vùng đất tốt để sinh hoa kết trái. Bất cứ hạt giống tốt nào cũng cần phải được vun tưới, chăm sóc và bảo vệ mới có thể sinh hoa kết qủa. Bất cứ hạt giống nào muốn nẩy mầm sinh trái cũng cần phải trải qua sự tiêu hủy: Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác (Ga 12, 24). Chúa Giêsu bước qua sự chết để vào cõi sống. Chúa Cha đã trao ban cho nhân loại một hạt giống tinh tuyền ẩn chứa một sự sống vĩnh cửu. Hạt giống đã được gieo vào lòng đất qua sự chết và đã sống lại phát sinh nhiều hoa trái.

 

Chúa Giêsu đã hiến thân mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Chúa đã dâng hiến với tình yêu vô điều kiện, yêu chỉ vì yêu: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15, 13). Chúng ta không thểthấu hiểu tình yêu mà Chúa đã dành cho nhân loại. Tình yêu qúa cao vời và huyền diệu. Chúa đắp đổi hận thù bằng sự tha thứ. Chúa cúi đầu chấp nhận mọi sự xỉ vả và lăng nhục của con người. Chúa đứng lặng yên trước những cáo buộc gian dối và thách thức quyền hành. Chúa hiện diện đó như một người Tôi Tớ hiền lành và nhân từ. Qua thái độ khiêm hạ, Chúa đang thầm gieo những hạt giống tốt vào những mảnh hồn chai cứng để cải đổi đời sống con người.

Lạy Chúa, mầu nhiệm tình yêu của Chúa cao vượt trên mọi suy tưởng của con người. Chúa đã hạ thân làm người đem tin mừng cứu độ. Chúa đã mở cửa nước trời mời đón mọi người. Chúa đã chữa lành và tha thứ mọi tội lỗi của con người. Vậy mà chúng con cứ ngoảnh mặt làm ngơ và chối từ ơn Chúa. Lạy Chúa, xin tha thứ và xin thương xót chúng con.

 

Lm Giuse Trần Việt Hùng

Bronx, New York

 

THẦY MÀ LẠI RỬA CHÂN CON SAO?

THỨ NĂM TUẦN THÁNH Ga 13,1-15

 

Sau khi nhận mũ áo Hồng Y, vào thứ năm Tuần Thánh 2001, Đức Hồng Y Jorge Mario Bergoglio, nay là Đức Tân Giáo Hoàng Phanxicô, cử hành nghi lễ rửa chân cho các tông đồ, ngài chọn 12 người bị nhiễm HIV Aids để rửa chân. Thậm chí ngài còn rửa chân cho cả phụ nữ nghòe mới sinh con.

Theo tin từ Tòa Thánh Vatican công bố vào Thứ Năm 21/3/2013. ĐGH Phanxicô sẽ cử hành Thánh Lễ Thứ Năm Tuần Thánh trong nhà tù giam giữ thanh thiếu niên “Casal del Marmo” tại Rôma vào chiều Thứ Năm, 28.03.2013. Vào lúc 17g30, Ngài sẽ rửa chân cho 12 tù nhân trẻ tuổi từ 16 đến 23, để tưởng niệm việc Chúa Giêsu cử hành Bữa Tiệc Ly với 12 môn đệ của Ngài và thực hành giới răn tình yêu của Chúa.

 

Ngày 04/10/2012, nữ ứng cử viên Tổng Thống Hàn Quốc Park Geun-hye đã tham dự buổi lễ Senzoku tại thành phố Ulsan và rửa chân cho một phụ nữ Việt Nam lấy chòng Hàn Quốc. Trong buổi lễ này bà Park Geun-hye cùng với các quan chức của đảng rửa chân cho các cử tri thể hiện cho tinh thần phục vụ nhân dân. Sau ngày bầu cử 19/12/2012, Bà Park Geun-hye giành chiến thắng sít sao nhưng mang ý nghĩa lịch sử quan trọng trong cuộc bầu cử tổng thống Hàn Quốc, để trở thành người phụ nữ đầu tiên nắm quyền tại nước này. Bà là con gái của một trong những nhân vật gây tranh cãi nhất Hàn Quốc thời hiện đại, cố tổng thống Park Chung-Hee.

 

Hôm nay Tin Mừng thánh Gioan tái hiện lại sự kiện Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ. Chính việc này đã ảnh hưởng và tác động sâu xa đến ĐHY Jorge Mario Bergoglio, Đức Giáo Hoàng Phanxicô, cùng ứng cử viên Tổng thống Hàn quốc. Như thế việc rửa chân có biết bao ý nghĩa sâu sắc và quan trọng.

 

Yêu thương

Cha mẹ nào mà chẳng rửa chân tay cho con nhỏ. Đó là cử chỉ yêu thương tình phụ tử, mẫu tử. Còn hình ảnh nào đẹp hơn thế? Đối với các môn đệ, Đức Giêsu vừa là Thầy, vừa là Người Cha Nhân Lành, luôn thương yêu săn sóc, chỉ dạy, nâng đỡ vỗ về, nhất là lúc sắp lìa xa. Cử chỉ thân thương này thường chỉ dành cho người thân, bộc lộ sự quan tâm, quý mến và vô cùng gần gũi. Vì vậy Đức Giêsu muốn biểu lộ Tình Yêu nồng nàn và thiết thực với các môn đệ, không chút ngại ngùng, hay xấu hổ.

 

Trong cuộc sống văn minh hiện đại, người ta lại dè dặt bộc lộ tình cảm công khai, không phải vì bớt yêu thương, nhưng vì tế nhị và lịch sự. Bị bao vây bởi những quan niệm xã hội gò bó, đúc khuôn, người ta đánh mất đi sự tự nhiên và tự do, dần dần tình người phai nhạt theo năm tháng.

 

Chẳng thế, người ta dễ dàng quay lưng, bịt mắt trước các thống khổ của đồng loại, đang diễn ra nhan nhản chung quanh. Cứu người bị nạn sợ bị dây dưa, hay bị lừa đảo, chuốc thêm phiền phức. Bênh vực kẻ khốn khổ, cô quả thì sợ bị trả thù.

 

Tôi cũng lây nhiễm căn bệnh thời đại Mackeno. Canh cánh lo toan vinh thân phì gia, đâu cần biết những gì xảy ra chung quanh. Chẳng mấy bận tâm đến tha nhân, người ngoài, nói chi đến yêu thương xa vời?

 

Khiêm hạ

Không hiểu ý nghĩa việc rửa chân, ông Phêrô liền xua tay từ chối, vì kinh ngạc trước nghịch lý Thầy rửa chân cho trò. Đức Giêsu muốn nhắn nhủ các môn đệ lòng khiêm nhường của người có chức vụ. Trong khi satan luôn khích động tánh kiêu ngạo mọi nơi, mọi lúc và mọi người, nhất là những người quyền thế.

 

Có dám từ bỏ mình, dám thoát ra khỏi cái vỏ ốc vị kỷ, mới có thể hạ mình xuống, có khiêm tốn, mới có thể nghe, có thể thấy, có thể thấu hiểu, hòa đồng, gần gũi, phục vụ thân tình với người khác. Chỉ có thể phục vụ tận tình với lòng khiêm tốn, mới đủ sức thuyết phục và đem lại hiệu quả.

 

Ông Phêrô qúa đỗi bất ngờ, đã không thể chấp nhận cho Thầy rửa chân cho mình: "Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao? " Đức Giê-su trả lời: "Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu." Ông Phê-rô lại thưa: "Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu! " (Ga 13, 6-8)

 

Trong cuộc đời Chúa Giêsu, hình như Chúa yêu thương cách riêng những kẻ khiêm nhường, và quên hết tội lỗi của họ không bao giờ nhắc lại: Phê rô, Madalena, Simon, Giakêu … Chúa tự mời mình đến nhà họ và đành chịu tiếng:“Bạn của quân thu thuế và người tội lỗi”.(Đường Hy Vọng, 521)

 

Tha thứ

Đức Giêsu đáp: "Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy." Ông Si-môn Phêrô liền thưa:"Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con.”(Ga 13, 8-9)

 

Khi rửa chân cho các môn đệ, Đức Giêsu lập lại cử chỉ của Mađalêna từng lấy nước mắt rửa chân Người, lấy tóc lau chân Người, vì sám hối ăn năn chí tình. “Tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều.” (Lc 7, 48)

Khi rửa chân, Người thương yêu rửa sạch mọi tội lỗi, tha thứ hết lỗi lầm, cũng như muốn nhắn nhủ các môn đệ và mọi người, luôn biết tha thứ, hòa giải với nhau, xóa tan mọi bất hòa, hiềm khích, thù hận. Nhưng tôi nào học theo Người, cứ mãi bằng mặt mà không bằng lòng. Cứ mãi quen thói khẩu Phật tâm xà. “Bề ngoài thơn thót nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”.(Kiều)

 

Hiệp nhất

Dù biết ông Giuđa Iscariot sắp sửa phản bội, Chúa Giêsu vẫn thản nhiên rửa chân cho ông. Người chỉ nhẹ nhàng cảnh báo: ”Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu.” Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói:“Không phải tất cả anh em đều sạch.” (Lc 13, 10-11)

 

Người không đối xử phân biệt kẻ tội lỗi với người ngay lành. Tất cả mọi người đồng đều ân hưởng Tình Yêu vô biên. Trong tinh thần hiệp nhất, Người muốn mọi người đều trở nên sạch sẽ, tốt lành, công chính và nhân hậu. Người còn sẵn sàng bỏ 99 con chiên trong bầy, để tìm một con chiên lạc trở về đoàn tụ.

 

Trong xã hội, người ta vẫn thường xa lánh, bỏ rơi những người được coi là đối tượng tệ nạn xã hội, cờ bạc, ma túy, sa đọa, trộm cướp. Mặc dù họ đã hoàn lương, cũng rất khó được hội nhập vào cộng đồng. Tính kiêu căng, bất khoan dung, đố kỵ, đã phân hóa cộng đoàn, giáo xứ, giáo họ.

 

Tôi cũng nào khác chi người Anh Cả của Luca 15, đã và đang xua đuổi người em ăn năn sám hối trở về. Cũng cứ đào hố phân cách xa vời vợi, mãi đứng chót vót trên ngọn Chomolungma xoay lưng lại ánh thái dương, mặt tối sầm, nhìn xuống vực thẳm Mariannes rẻ rúng người em tội lỗi nhỏ bé. (Lê Quang Uy, Ánh Sáng và Bóng Tối)

 

Lạy Chúa, xin khai tâm cho con thấu hiểu được cặn kẽ và thực hiện được chính xác điều Chúa răn dạy:“Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau”.

Lạy Mẹ, xin dạy con biết yêu thương tha nhân, với tấm lòng khiêm hạ, tha thứ và hiệp nhất, để con xứng đáng trở nên môn đệ trung thành của Chúa Giêsu. Amen

 

AM Trần Bình An

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn